Lại Haiku…

Sau khi đề tài thơ Haiku được giới thiệu, Thầy Lâm Khương Nhàn có gửi một số tài liệu về Haiku với mục đích làm rõ hơn về sự hấp dẫn của thể thơ nầy trên thế giới. Thầy cho rằng sau khi tham khảo thêm các tư liệu nầy các bạn sẽ có một cái nhìn rõ ràng hơn, và có hứng thú với thơ Haiku hơn, như đã từng bị mê hoặc bởi thơ Đường  trước đây. Tài liệu hơi dài, nhưng thiết nghĩ cũng nên đi sâu để hiểu và làm phong phú thêm cái đẹp của Thơ trong vườn nhà. Chúng em cũng xin cảm ơn sự quan tâm chia sẻ của Thầy,  THVT68-75”Tri thiên mệnh”Blog:

 .Tư liệu 1:

ý nghĩa thơ hài cú

Tinh túy của thơ hài cú (haiku) của Nhật nằm trong 2 yếu tố:

1) khả năng nhận thức của người đọc, mang họ đến gần hơn với những sự thật căn bản.

2) khả năng thu nhận sự phát triển ý nghĩa của bài thơ sau mỗi lần đọc.

Theo Miyazaki Toshiko, chữ “haiku” (hài cú) xuất phát từ haikai renga no hokku (tạm dịch, những dòng khởi cho bài thơ liên hoàn). Cái tên hài cú mãi đến cuối thế kỷ 19 mới được 1 thi sĩ tên Shiki dùng cách lồng chữ sáng chế, 1 bài hài cú thật ra là phần đầu của bài waka, 1 loại thơ âm tiết 5 dòng được xếp theo thứ tự 5-7-5-7-7 chữ. Waka còn được gọi là tanka hay uta (theo tuyển tập thơ Manyoshu thì loại thơ tanka và uta đã xuất hiện ở thế kỷ thứ 18). khi quyển Shinkokinshu được ra đời trong khoảng năm 1185-1333 thì thơ waka bắt đầu xuống dốc và 1 loại khác gọi là renga được phổ biến. renga, còn gọi là thơ liên hoàn, là một kiểu đối thoại bằng thơ. Renga kế thừa thơ waka sau 3 hàng đầu (5-7-5) được người thứ nhất khởi và 2 hàng kế (7-7) do người thứ 2, rồi người thứ 3 viết 3 hàng (5-7-5), người kế tiếp 7-7. và cứ tiếp tục như thế , có đôi khi chỉ 4-5 người sáng tác cả trăm khổ thơ. Trong những bài thơ dài như vậy, 3 hàng đầu, còn gọi là hokku, luôn là khổ thơ quan trọng nhất và được biết đến nhiều nhất. Thơ renga thường xuất hiện trong các buổi thơ họa. Luật thơ được lập ra vào năm 1186 do 2 thi sĩ Fujiara Sadaie và Fujiwara Sadatake, vào khoảng thời gian 1392-1568 (còn gọi là thời đại Muromachi), thi sĩ Iio Sogi đã nâng hài cú lên hàng văn học bằng những bài renga đầy tính nghệ thuật của ông cho rằng luật waka khoa trương mà sáo rỗng, Sogi cùng 1 số thi sĩ khác đã nổi dậy chống lại triều đại renga thay vào đó, họ bắt đầu xử dụng từ ngữ rộng rãi hơn để đưa sự hóm hỉnh vào thơ nói 1 cách khác, hình thể của renga được giữ lại nhưng cái hồn của waka thì bị vứt bỏ. loại thơ liên kết bình dị này gọi là renku nhưng 3 hàng đầu vẫn được gọi là hokku, loại renku mới này còn được biết là haikai renga, và dần dần cái tên haikai được hiểu cùng nghĩa với hokku. do vậy, hài cú trước thời Shiki được biết là hokku hay haikai, các cao sư chuyên dạy renga và waka có thói quen viết sẵn bài hokku để chuẩn bị cho buổi thơ liên hoàn, hokku có lẽ là thể thơ ngắn nhất trong các loại thơ trên thế giới, do vậy việc pha trộn nét nghệ thuật cho nội dung và hình thái càng trở nên thiết yếu, chính thi sĩ Matsuo Basho đã mang hài cú vào hàng văn chương thật sự có tính cách phản ánh thực tế, không còn là sự hóm hỉnh đơn giản. Matsuo Basho sinh ra tại tỉnh Iga (quận Mie) thiếu thời ông là bạn của người con trai của một vị quan ở Tokyo, tại đây ông học trà đạo và hài cú với thi sĩ Kitamura Kigin, sau khi người bạn qua đời, Basho dọn đến Edo (Tokyo), nơi mà ông dựng lên cái chòi lá chuối ở Fukugawa và nghiêm túc viết thơ hài cú. vì muốn nếm đậm cái vị của thiên nhiên và nhân sinh, sự quan sát của ông cuối cùng đã tìm được giọng thơ riêng cho hài cú, lột tả cảm xúc của mình qua âm, hình và thể thơ hài cú của ông được biết đến qua nội dung trầm sầu (còn gọi là wabi, một thuật ngữ từ trà đạo ám chỉ đến nét đẹp bình dị) và qua âm thanh trầm tĩnh (còn gọi là sabi, nét tao nhã ẩn giấu trong những đồ vật đã cũ mòn), văn phong của Basho về thơ hài cú được gọi là shofu haikai, từ sho là âm tiết thứ hai của tên Basho, và fu là văn phong cái giáo lý nền tảng của shofu haikai là thiên nhiên chính là tinh túy của thi ca, suốt cuộc đời, Basho đã du hành khá rộng rãi để tìm nguồn cảm cho hài cú. trong các du ký của ông, 2 quyển Sarashina Kiko (tạm dịch, Chuyến Thăm Làng Sarashina) và Oku no Hosomichi (Con Đường Hẹp Ra Bắc) khá quan trọng vì những bài tiểu luận về thiên nhiên và hài cú, sau khi Basho qua đời, nghệ thuật hài cú giảm xuống 1 thời gian, nhưng sau đó được Buson, Issa và Shiki hồi phục. Taniguchi (hay Yosano) Buson sinh ra gần vùng Osaka, rất ít từ cuộc đời ông được biết đến, nhưng sự đam mê của ông đối với tranh vẽ được thể hiện qua các hình ảnh đẹp đẽ khách quan. mặc dù cảm thấy không cần thiết bày tỏ cảm xúc của mình, tác phẩm của ông vẫn đậm nét ấm.

oikaze ni

susuki karitoru

okina kana

an old man

cutting pampas grass

the wind behind him.*

Kobayashi Issa nguyên quán làng Kashiwaba, phía bắc của Tokyo. mồ côi từ nhỏ, ông nổi tiếng ở sự chống đối lại lề lối nguyên tắc trong thơ và đạo, nhưng trên hết, ở cách diễn đạt đơn giản và sự miêu tả cuộc sống của người dân thường.

koromagae

kaete mo tabi no

shirami kana

the change of clothes;

changed, yes,

but the same lice of my journeying.

Sau thời Issa là thi sĩ cận đại Masaoka Shiki, sinh tại Matsuyama sau khi tốt nghiệp từ đại học Tokyo, Shiki làm việc cho tòa báo ông tham gia cuộc chiến Sino-Japanese (1894-1895) mặc dù trước đó đã nhuốm bệnh lao bệnh ngày càng trầm trọng, ông quay về cải tiến thơ waka và hài cú từ giường bệnh, biên soạn cuốn tạp chí hài cú nổi tiếng Hototogisu (Cuckoo) Shiki là thi sĩ đầu tiên dùng chữ “hài cú.” người ta cho rằng ông là người hâm mộ của thơ Buson qua bài thơ sau:

iriguchi ni

mugi hosu ie ya

furu-sudare

barley drying

in front of the door:

old bamboo blinds hanging.

Sau này với sự giới thiệu của thi sĩ Ogiwara Seisensui, thơ hài cú phát triển với xu hướng tự do hơn trước người ta bắt đầu thí nghiệm với tựa đề, với loại hài cú 2 dòng hoặc những dòng dài hơn thí dụ, bài hài cú sau có 24 âm tiết, chia thành 10, 6 và 8 chữ mỗi hàng.

hibari tenjo de naki

daichi de naki

nakinagara nobori

the lark sings in heaven

sings on earth

sings as it rises.

senryu là loại hài cú châm biếm khởi nguồn từ Karai Senryu tại Edo do sự châm biếm của nó nên loại thơ này có nhiều tự do ở sự diễn đạt, bao gồm cách dụng từ ngữ thô tục, nó còn tạo điều kiền cho những khôi hài hiển nhiên cũng như sự phê bình đầy triết tính hơn cả hài cú, phải nói có lẽ ngược với thơ hài cú, senryu diễn đạt sự phi lý âm hưởng trong thơ không thanh cao như hài cú.

when she wails

at the top of her voice,

the husband gives in.

bài senryu này chứa đựng hoàn cảnh buồn cười mà nhân gian nơi nào cũng gặp mẹ vợ, tăng lữ, các bà vợ đanh đá, phụ nữ hư hỏng và cuộc sống độc thân là những điểm được senryu tấn công nhiều nhất. những người tập tễnh ở ngưỡng cửa hài cú Anh ngữ thường bị mất tinh thần bởi câu nói từ những người bạn Nhật: “thơ của bạn giống senryu đậm triết tính.” cho nên chẳng ngạc nhiên gì khi thấy senryu có sự lôi cuốn mạnh mẽ đối với độc giả Tây phương truyền thống lô-gíc người Tây thay vì trực giác làm thơ senryu dễ viết hơn hài cú, sự phát triển của hài cú, đi từ waka đến hài cú tự do cận đại, và trên hết haikai của Basho, hài cú nói tóm lại là loại thơ có 17 âm tiết được chia thành 3 dòng 5-7-5 chữ, ám chỉ mùa trong năm và sự hợp nhất giữa nhà thơ và thiên nhiên, con số 17 cho âm tiết của 1 bài hài cú được cho là 1 con số lý tưởng để diễn đạt nét đẹp của thiên nhiên trong 1 hơi đọc, nói cách khác, sự hợp nhất thần giác của thi sĩ với thiên nhiên và tinh túy của 1 bài hài cú nằm trong 17 âm tiết, trong 1 hơi thở, vì cái tính mãnh liệt trong thơ, mỗi bài hài cú được chia 3 dòng thành 5-7-5 âm tiết có 3 yếu tố cho 1 bài hài cú: nơi chốn, thời gian và sự vật (where, when, and what). ví dụ bài thơ của Basho sau đây:

kare eda ni

karasu no tomari keri

aki no kure

on a leafless bough

a crow is perched–

the autumn dusk

Hàng thứ nhất chỉ nơi chốn, hàng thứ 2 chỉ sự vật trong thiên nhiên, và hàng thứ 3 là mùa trong năm (thời gian), từ khi Nhật mở cửa giao thương với Tây phương năm 1868, Anh quốc bắt đầu có hứng thú trong việc chuyển dịch và nghiên cứu thơ hài cú hiện tại ở Bắc Mỹ có ít nhất 4 “tạp chí nhỏ” chuyên xuất bản thơ hài cú bằng Anh ngữ chuyển dịch thơ hài cú Nhật hiện rất phổ biến; Miyamori Asataro, R.H. Blyth, Harold G. Henderson, Peter Beilenson và Yuasa Nobuyuki là những dịch giả nổi tiếng đương đại.

(trích dịch, tóm tắt, tham khảo từ quyển The Haiku Form của Joan Giroux).

Tư liệu2.

Haiku là một thể thơ của Nhật, được truyền sang Trung Hoa rồi vào Vietnam. Hiện nay thể thơ này cũng đã du truyền sang các nước Tây Phương như Mỹ Pháp. Hàng năm có những cuộc thi Haiku ở Nhật, số bài tham dự đến cả mấy chục ngàn, có khi cả trăm ngàn bài.

Về hình thức thì Haiku gồm 3 câu và 17 âm, không phải 17 chữ, chia làm 5,7,5. Tiếng Nhật và hầu hết ngôn ngữ gốc latin-roman của Tây Phương đa âm nên nhiều khi 1 câu chĩ có 1 chữ hay hai Thí dụ như “Sayonara” tính là 4 âm, “unforgettable”(5 âm) đã là 1 câu rồi. Riêng tiếng đơn âm như Hán, Việt hay Triều Tiên thì có thể dùng 17 chữ trong 3 câu, vì vậy diễn đạt được nhiều hơn. Nhưng tinh túy của Haiku không phải là để nói nhiều, mà để diễn đạt một thoáng suy tư, một khung cảnh cô đọng, một chút thiền. Haiku không phải là một phim bộ dài dòng mà là một tấm ảnh chụp lấy một khoảng khắc, một trừu tượng, một tư duy, nên nhiều khi vài chữ cũng đủ. Cái hay và khó hay của Haiku là ở chỗ đó. Đọc một bài thơ Haiku hay như nghe một tiếng khánh cô đọng thật ngắn gọn nhưng ngân nga, để lại ấn tượng lâu trong tâm hồn người. Haiku không có luật về âm điệu và vần. Kết hợp vào thơ Vietnam ta có thể cho câu cuối vần với 1 trong hai câu trên, nhưng không bắt buộc.

Về nội dung, Haiku chính tông đòi hỏi trong bài phải nói về một trong bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Không có nghĩ là phải nêu tên một mùa ra mà dùng biểu tượng cũng được, như tuyết, hoa đào, nắng ấm v.v.

Dù vậy quy luật này cũng không cần theo vì gò bó vào một khía cạnh quá. Trong văn học sử Nhật có thiền sư Basho là người để lại nhiều bài Haiku bát ngát hương Thiền.

Những bài thơ hài cú tiêu biểu.

1.Con hạc hồng kiêu sa

Trầm mình trong dòng suối nước nóng

Chỉ còn lại bộ da

The proud flamingo

Dived into the hot stream

Nothing left but skin

2.Người chiết tự trong đêm

Chữ bình tâm loay hoay xếp mãi

Quên ngày mới vừa lên

Anagram at night

Could not arrange “peace of mind”

Missed the dawn’s light.

3.Xếp chân mong thiền tọa

Ruồi đậu bàn tay, vỗ bàn tay

Tâm tịnh mất khi nàỵ

4.Nước chảy đá cũng mòn

Ta góc cạnh từ khi nhập thế

Nay thành viên sỏi tròn

5.Mổ cho sạch túi phân

Mà không sạch tâm hồn nhiễm độc

Khâu lại để làm chi ?

6.Mùa thu cành thay lá

Con rắn già biết cách lột da

Trịnh Công Sơn chết sớm

7.Lữ khách đứng trên cầu

Nhìn nước lũ cuốn đi ảo vọng

Hỏi sao bóng không trôi

8.Hạt sương trên cánh hồng

Cành Bonsai nghiêng về phía nắng

Giọt nến đọng đêm qua

9.Người lên núi định thiền

Nghe gọi tên vẫn còn quay lại

Khi nào mới vô danh ?

10.Khoanh hai tay bái Sư

Phật đứng tránh sang không nhận lễ

Hai tay bái hư không

11.Đến cổng chùa nghe đạo

Sư trụ trì bế môn tiễn khách

Phật cả cười Phật thăng

12.Đi cùng Sư bái Phật

Cửa đóng, Phật từ tâm nhắn nhủ:

“Kiếp sau đến một mình!”

13.Buổi sáng nhìn sang cạnh

Cám ơn đời vì vẫn có em

Mùi cà phê thơm ngát

14.Cứ mỗi độ vào thu

Lại cùng Thanh Tịnh đi đến trường

Và ngâm Lưu Trọng Lư

15.Cư sĩ hỏi bóng mình

Khi nào là giác, khi nào ngộ

Bóng lập lòe lặng thinh

15 responses to “Lại Haiku…

      • Đọc thơ “ai” hay quá !
        Ta ngồi ngẩn ra,
        Xếp bút mực vào.
        (hi..hi..là thua rồi đó !)

  1. Wow! đúng là Cẩm Vân !Thầy ơi,thầy nghĩ sao? không uổng công thầy sưu tầm tư liệu cho học trò phải không thầy?

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s