Huyền thoại dòng nước mắt.

Dẫn nhập:

Theo niềm tin của người Công giáo ( Sáng thế ký) thì trước khi tác tạo con người Thiên Chúa đã tạo dựng Thiên thần đẹp đẽ. Nhưng có một số kiêu ngạo nên bị trừng phạt trở thành quỉ chuyên đi cám dỗ con người vì ganh tỵ. Thế rồi con người cũng sa ngã nhưng biết ăn năn nên được tha thứ và được cứu chuộc,nhưng phải chịu nhiều đau khổ rồi cuối cũng là phải chết. Kiếp sống sau mới là vĩnh viễn và hạnh phúc hay đau khổ tùy thuộc vào những việc làm của kiếp này.

Ngày xửa, ngày xưa  khi trần gian còn nguyên sơ, buổi binh minh thơm ngát  bụi hồng hoang; ráng chiều chưa vương làn khói xám lửa rơm buổi cơm chiều của con cháu loài người.Adam từng bước chân trần lên ngôi Hoàng đế địa cầu trên lớp đất mềm chưa vướng chông gai và cỏ non mịm hiền hòa cúi mình đón bước chân chàng. Ngai vàng chàng ngự là những phiến đá được thiên nhiên mài dũa qua bao tỷ năm. Áo choàng của chàng được dệt bằng những sợi tơ hiền hòa của tiết mùa và Vương miện trên đầu chàng là hào quang vinh dự “thống trị muôn loài”.

Trần gian tuyệt mỹ với muông thú, cá chim. Cỏ cây thơ mộng bên sông suối mơ màng. Biển mênh mông, núi non hùng vĩ. Adam ngây ngât trong hạnh phúc tưởng chừng bất tận. Nhưng bỗng một hôm chàng cảm thấy một nỗi cô đơn nhen nhúm trong hồn. Chàng hoang mang hỏi Chúa:

_ Phải chăng công trình tạo dựng của Ngài chưa hoàn tất, dường như còn thiếu một điều gì đó phải không?

Chúa trả lời :

_ Con cứ an tâm, chuyện đâu còn có đó, hãy cứ lo tận hưởng những gì đang có đi!

Thế rồi chàng yên tâm lững thững đi ra bờ hồ ngồi ngắm cảnh. Cúi xuống mặt hồ chàng bỗng bắt gặp một con người không biết từ đâu đến.

_ A!Thế là từ nay ta đã có bạn.

Chàng sung sướng! Từ đó, ngày ngày ra bờ hồ trò chuyện với nhân vật mơ màng mà chàng chưa hề biết cội nguồn của hắn. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn chàng lại vô cùng chán nản vì cái gã “gà mờ” kia chẳng biết được điều gì hơn chàng. Adam kiếm chỗ ngủ liên tiếp nhiều ngày,bỏ mặc người bạn bíẩn mới quen trong hồ nước.

_Ráng chịu đi em, ai bảo mày ngu quá!

Thức dậy sau giấc ngủ dài, Adam được Chúa dẫn đến trao cho chàng một tác phẩm mới thật tuyệt  mỹ từ vóc dáng đến ánh mắt, nụ cười.

_ Đây là Eva, từ nay con sẽ không còn cô đơn nữa. Ta hy vọng rằng con sẽ không hối hận khi có nàng.

Adam  cám ơn rối rít, chỉ sau vài phút ngỡ ngàng chàng đưa Eva đi giới thiệu mọi ngõ ngách vườn Địa đàng với niềm hạnh phúc ngập hồn. Tay trong tay, chàng khám phá thêm một kho tàng “ cảm xúc” vô cùng quí giá vượt trên tất cả mọi “tài sản” trong vườn địa đàng này. Sau một thời gian khắn khít, đắm chìm trong hạnh phúc tuyệt vời Adam chợt nhớ tới người bạn trong hồ nước, chàng đến thăm tiện thể giới thiệu cho hắn người bạn đờicủa mình.

Nghiêng mình cúi xuống mặt hồ chàng thấy “cái bản mặt” của nó cũng như ngày nào. Eva khép nép sau lưng rồi nhẹ nhàng tựa cằm lên vai chàng nhìn xuống. Adam chưa kịp chào hỏi đã đổ quạu:

_Tại sao mà từ khi quen biết mi ta không biết thêm điều gì mới lạ cả, mấy hôm trước thì cứ ta nói câu gì thì  mi nói câu đó, ta hỏi mi điều gì thì mi lại hỏi lại điều đó. Đến hôm nay ta có “cái gì” mi cũng có “cái đó” thế là làm sao?

Eva tủm tỉm cười:

_Đó chỉ là cái bóng của chàng thôi, nhìn kỹ mà coi có phải người  đàn bà bên cạnh cái bóng đó giống hệt em không?

_Chúa ơi bây giờ con mới hiểu ra, nàng đã đẹp lại còn thông minh nữa, thế mà hổm rầy con cứ tưởng chàng trai đó là con Long vương hay Hà bá chứ con đâu có dè đó chính là con,“cũng khá đẹp trai”ấy chứ! Lạy Chúa, sao mà Ngài quá tài ba!

Hạnh phúc tràn đầy phủ quanh đời sống bình an vì có thêm người để suy xét, phân tích mọi tình huống trong cuộc sống hàng ngày. Adam trở nên lười suy nghĩ từ khi được Eva chỉ cho chàng thấy được chính mình.

Rồi một ngày lịch sử sang trang khi Adam nuốt phần còn lại của trái Cấm vườn Địa đàng. Adam và Eva đi tìm nơi ẩn nấp, họ trốn chạy Thiên Chúa và ngay cả chính mình.

_Adam.

_ Dạ con nghe, nhưng bữa nay con bận rồi!

_ Ta đã biết rồi con ạ! Từ đây về sau con sẽ còn “bận” dài dài không còn “tồng ngồng” thong dong, thoải mái như trước đây nữa đâu. Thôi ráng mà moi óc vẽ kiểu thời trang cho cái “bận “ của con đi.

Adam lúng túng muốn trì hoãn thời gian ra trình diện để suy tính cho “một cái gì đó”đang biến đổi trong chàng. Nhưng không còn cách nào thoát thân, chàng quì xuống gào lên thảm thiết.

_ Lạy Chúa, Chúa biết cả rồi! Hỡi đám mày râu hậu duệ của ta ơi ! Chúng bay đừng có thằng nào dại dột nghe lời đàn bà như Adam này.

Chúa hỏi:

_Eva, sao vậy con?

Eva thút thít:

_Chúa ơi, xin gọi con rắn mà hỏi.

Chúa gọi Luxiphe:

_Ngươi đã làm gì? Có phải ngươi muốn họ cùng chung số phận của ngươi cho có bạn nên đã cám dỗ họ phải không?

Quỉ vênh váo:

_Cám dỗ là nghề của tôi, chúng nó nghe theo thì phải ráng chịu.

Lúc này con rắn đã hiện nguyên hình quỉ dữ với mình mẩy nhớp nhúa, có nanh, có sừng lại có thêm cái đuôi dài lê thê.

Eva rùng mình khiếp sợ, nức nở:

_Lúc đó nếu con thấy được hình hài kỳ quái,  ghê tởm của nó thì con đã không nghe nó rồi. Nó đã chỉ là con rắn với lời lẽ ngon ngọt, dịu dàng.

Chúa ôn tồn:

_Thật ra lời khuyến dụ của nó đã vô cùng phi lý rồi, nếu ăn trái cấm vào mà có lợi thì nó đã làm rồi, nó không chừa cho con đâu. Thường ngày Adam đã từng thán phục khả năng nhận thức tinh tế của con, hôm nay con để nó đâu rồi? Còn Adam, có thêm người để có thêm suy tính mà sao từ khi có Eva hình như con bỏ cái đầu thông minh trong “hồ nước “rồi phải không? Nên bây giờ chúng con chỉ còn có nước rủ nhau “đi chết” cho rồi.

_Lạy Chúa!chúng con đã mắc tội xin ngài thứ tha!

Adam gục đầu nức nở, mắt chàng sáng lên vì dòng lệ đã giúp chàng rửa sạch bụi mờ của tham vọng u mê. Chàng đau đớn nhận biết rằng loài  người còn có khả năng “khóc” và đây cũng là lần đầu tiên chàng phải dùng đến. Tiếng Khóc “Đàn ông “ Của Adam làm Thiên Chúa mủi lòng Ngài liền phán bảo hai người :

_Ta sẽ ban cho các con một đấng cứu thế sau này.

Liền ngay lúc ấy, Luxiphe nhảy vào khiếu nại :

_Ngài chẳng công bằng chút nào cả, xưa kia khi chúng tôi phạm tội ngài nỡ trừng phạt chúng tôi xấu xí như vầy, còn chúng nó thì ngài lại cứu vớt.

_Ngươi có bao giờ ăn năn, khóc lóc đâu mà bảo ta cứu vớt.

_Ngài đâu có tạo dựng chúng tôi có thể chất như chúng nó đâu mà biểu khóc lóc với ăn năn.

Nói xong nó chỉ vào mặt Adam và Eva mà dõng dạc nguyền rủa:

_Ta sẽ làm cho loài “có nước mắt “ chúng bay phải khóc thành sông, những đôi mắt long lanh kia phải đổ lệ trăm dòng.

Lời nguyền kia xoáy nát tâm can, hai người thất thểu nhìn lại giang sơn mình. Không có gì thay đổi nhưng sao lòng buồn rười rượi, lê bước chân trên nền đất dường như nhiều đá sỏi, chông gai. Ôi! Không phải thế đâu, thường ngày họ vẫn dẫm phải gai nhưng họ ngồi xuống bên nhau, dịu dàng, tình tứ nhổ những mảnh đau đớn cho nhau trong tình yêu như nắng ấm chan hòa. Bây giờ tình đã héo hon! Rồi đổ lỗi cho nhau, đổ qua đổ lại nhiều quá thành ra “đổ thừa “, nước mắt  lại rơi!

Bây giờ cả hai đều không còn dám ngắm nhìn hình ảnh mình trong hồ nước nữa, họ muốn hồ nước kia lưu giữ mãi những gì của hôm qua. Cuộc sống trước nay có đầy khó khăn, thử thách họ đã vượt qua một cách thú vị, nhưng hôm nay sao đắng cay ngập hồn. Adam trở nên tư lự và có lẽ bắt đầu từ đó chàng mới chịu xử dụng đầu óc thông minh của mình một cách triệt để hơn. Lời Chúa hôm nào:”đừng ăn trái này kẻo phải chết” và chàng đã được nhìn thấy sự chết xảy ra trên sinh vật nhưng hôm nay cảm giác sợ hãi mới đến với chàng. Một cành cây bị gió đánh gãy, một cây cổ thụ già chết đứng bên sông….chúng từ từ vàng úa, héo khô rồi mục nát. Cái chết trên cây cỏ đã tiêu điều nhưng chưa khủng khiếp, thê lương như trên các loài cầm thú. Con cọp  hiên ngang giữa núi rừng ngày nào khiến bao nhiêu loài phải khiếp vía, kinh hoàng thế mà một ngày cuối đông năm trước đã phải nằm yên cho sâu bọ rúc rỉa, oai linh chỉ còn cô đọng khối tanh hôi.

Thân phận của mọi sinh vật tồn tại và mất đi để quân bình cho trái đất này? thế mà từ nay Adam và  Eva rồi con cháu sẽ bị giáng xuống như chúng: chết queo khi nguồn sinh lực bị rã rời từng đoạn nơi thể xác. Ngày đó đơn độc và buồn thảm vô cùng, con người sẽ nằm yên  mặc cho đôi mắt linh hồn kề cận bên đôi mắt thể xác mà réo gọi, van xin sự hé mở chỉ một chút thôi, cho nó được trở về làm xong thủ tục ăn năn cuối đời. Mặc bao tiếng khóc, tiếng gào, bao dòng lệ nóng đổ ra cũng không làm ấm lại trái tim băng giá đã từ chối đập đều nhịp yêu thương. Con người là một tạo vật kỳ diệu từ hư vô mà đến nhưng lại không có đường trở về hư vô nên chết rồi  vẫn còn phải “lang thang”.

Dòng nước mắt chảy vào trần gian từ ngày ấy đến nay vẫn còn lênh láng, phải chăng “lời nguyền “ kia quá cay nghiệt nên vẫn còn công hiệu cho đện tận ngày nay.

  Cung Thương

Tháng 1 năm 1998

Thăm mộ cụ ALEXANDRE DE RHODES.

Sưu tầm.

Xin cám ơn người, một vị đại ân nhân của những người con nước Việt. Xin tri ân người với lòng kính yêu sâu sắc người tạo ra chữ Quốc Ngữ Việt Nam:  ALEXANDRE DE RHODES

Câu chuyện về người con đất Việt tìm thăm lại mộ ngài Alexandre de Rhodes ở miền đất xa xôi, làm cho người đọc cảm thấy ấm lòng.
Anh Trường là hướng dẫn viên du lịch, đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa nhưng trong lòng vẫn mong ngóng về một điều bấy lâu, đó là được tới tận nơi ngài Alexander De Rhodes an nghỉ, đặt lên mộ ngài một bó hoa và nói nên lời cảm tạ từ đáy lòng.
“Từ thuở còn sinh viên, khi được học về nguồn gốc chữ quốc ngữ mà chúng ta có được để sử dụng một cách dễ dàng và tiện lợi như ngày nay. Tôi đã thầm cảm ơn những nhà truyền giáo phương Tây, đặc biệt là Alexandre de Rhodes, người đã có đóng góp lớn lao trong việc hoàn thiện hệ thống bảng chữ cái cho người Việt Nam của chúng ta. Và may mắn thay, trong chuyến đi Iran lần này. Một cơ duyên vô cùng quý báu đã giúp tôi có cơ hội đến viếng thăm ngôi mộ, nơi yên nghỉ của ông trong một nghĩa trang nằm ở ngoại ô của thành phố Esfahan, Iran.


Vùng đất Esfahan, Iran nơi ngài Alexandre de Rhodes an nghỉ. Ảnh google map

SỰ CHỈ GIÚP CỦA NHỮNG NGƯỜI BẠN TỐT BỤNG

Từ lời gợi ý của một chị bạn, chúng tôi biết được thông tin về ngôi mộ của Alexandre de Rhodes được an táng trong một nghĩa trang công giáo của người Armenia tại Esfahan. Nhưng do thời gian lưu lại nơi đây khá ngắn, vì thế hy vọng được đến viếng thăm ngôi mộ của ông là khá mong manh cho chúng tôi.
Khi nghe chúng tôi nói về ước nguyện của mình, cô Malih- một hướng dẫn viên người Iran vô cùng thông cảm và hết sức tận tình giúp đỡ. Mặc dù với thâm niên hơn 10 năm làm nghề hướng dẫn viên, đã đưa biết bao nhiêu đoàn khách từ khắp năm châu đến thăm Esfahan, nhưng là người Hồi giáo cho nên cô chưa hề biết đến thông tin về khu nghĩa trang người công giáo Armenia nằm ở đâu. Và cô cũng không hề biết đến thông tin nào về Alexandre de Rhodes.


Người đã giúp anh Trường có được tờ giấy phép vào thăm mộ ngài Alexandre de Rhodes

Sau quá trình tìm kiếm, thông qua một người bạn gái gốc Armenia, cô Mila hỏi thăm được địa chỉ của nghĩa trang. Nhưng vấn đề là không phải ai cũng được vào thăm nghĩa trang. Mà cần phải có sự đồng ý của người quản lý ở nghĩa trang.
Một lần nữa, chúng tôi may mắn gặp được một vị quản lý ở nhà thờ Vank, ông đã nhiệt tình viết cho chúng tôi một tờ giấy phép để xuất trình cho người quản lý ở nghĩa trang.
Cầm tờ giấy trên tay, chúng tôi vội vàng đi về phía ngoại ô thành phố Esfahan. Nơi có nghĩa trang của cộng đồng người Armenia sống tại đây.
NƠI NGƯỜI NẰM XUỐNG

Trước mặt chúng tôi là một nghĩa trang rộng lớn. Những dãy mộ xếp hàng dài nối bên nhau mênh mông. Chúng tôi biết là sẽ không dễ dàng để tìm ra vị trí lăng mộ của ngài. Chúng tôi tìm gặp một cụ già quản mộ ở đây dò hỏi. Cụ nhanh chóng lên xe đưa chúng tôi đến ngôi mộ có tên Alexandre de Rhodes….


Đường vào nghĩa trang nơi ngài Alexandre de Rhodes an nghỉ

Hôm chúng tôi đến, là ngày đầu năm mới của tết cổ truyền Nowruz của người Ba Tư (Iran), một vài ngôi mộ gần đấy được đặt những chậu hoa. Còn ngôi mộ của ông không có một cành hoa nào, đó chỉ là một nấm mồ nhỏ làm bằng một tảng đá hình chữ nhật nằm khép mình khiêm tốn bên những ngôi mộ khác.


Anh Trường cùng mọi người mua hoa trước khi đến thăm mộ ngài Alexandre de Rhodes
Một niềm xúc cảm thân thương nghẹn ngào mà tôi không thể tả thành lời đang tuông chảy trong tôi. Đây là nơi an nghỉ của người đã có đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc Việt Nam. Dưới lớp đất ấy là thi hài của một người phương Tây xa lạ.
Ông đã mất từ gần 4 thế kỉ trước nhưng ông là người đã giúp cho dân tộc Việt Nam có được một bảng chữ cái với các thanh sắc uyển chuyển nhẹ nhàng, nhằm để ghi lại và diễn đạt tiếng mẹ Việt Nam.


Mộ ngài Alexandre de Rhodes

Đặt một chậu hoa tím mua được trong một hiệu bán hoa tết của người Iran lên mộ ông. Chúng tôi không ai nói lời nào. Nhưng giữa chúng tôi có một sự đồng cảm sâu sắc. Chấp tay lên ngực, tôi khẻ cúi đầu xin gửi đến người một lời tri ân sâu sắc.
Nhìn thái độ thành khẩn và tôn kính của chúng tôi dành cho người nằm dưới nấm mộ. Người quản trang hỏi cô Malih: ông ấy là ai mà chúng tôi có vẽ tôn kính thế.
Và ông đã vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng đây là người đã có công hoàn thiện bản chữ cái cũng như xuất bản những quyển tự điển Việt -Bồ- La tinh đầu tiên cho người Việt Nam từ những năm 1651.


Người con Đất Việt đặt lên mộ ngài bó hoa tươi thắm với tấm lòng thành kính

NGƯỜI QUẢN NGHĨA TRANG
Qua cuộc chuyện trò, tôi đuợc biết người quản trang có tên gọi là Rostam Gharibian, ông đã làm việc ở đây được 17 năm.
Tôi hỏi, trong 17 năm đó có bao giờ ông thấy ai là con cháu hay người thân của ngài Alexandre de Rhodes đến viếng mộ ông ấy hay không.
Thoáng chút đăm chiêu, ông trả lời rằng: vì là một thầy tu cho nên khi mất đi cũng như bao người khác Alexandre de Rhodes cũng không có vợ con. Và họ hàng thì cũng ở xa tít tận châu âu cho nên chắc cũng không ai còn nhớ.
Vì thế trong 17 năm nay ông cũng chưa hề nghe thấy một người họ hàng hay con cháu nào của ông đến thăm. Chỉ thĩnh thoảng đôi khi ông thấy có một vài người Việt Nam đến viếng mà khi đó thì ông cũng không biết họ là ai và có quan hệ như thế nào với người đã mất…


Anh Trường cùng người quản trang

THAY LỜI TRI ÂN
Theo truyền thống của những người Iran, tôi lấy một ít nước rửa lên nấm mồ của ông. Những giọt nước mát trong chảy lên bia mộ ông tựa như lời thì thầm của chúng tôi xin gửi đến người. Cả một đời ông cống hiến vì đạo. Và trong quá trình truyền giáo, với mục đích mong muốn truyền tải những thông điệp trong kinh thánh một cách dễ dàng hơn.
Ông đã không quản khó nhọc để tìm cách sáng tạo ra bảng chữ cái tiếng Việt. Và đến khi cuối đời, ngài đã lặng lẽ nằm lại nơi xứ người. Có lẽ giờ đây ông không còn một người bà con họ hàng nào nhớ đến ông để thỉnh thoảng ghé thăm chăm nom nấm mồ của ông nữa, nhưng có lẽ ông cũng ấm lòng khi biết rằng vẫn còn đó những người con nước Việt.
Vẫn còn đó hơn 90 triệu người con nước Việt trên khắp 5 châu sẽ Mãi Mãi không bao giờ quên ơn ông. Người đã có công vĩ đại trong việc chấm dứt 1000 năm tăm tối, 1000 năm khốn khó khi những người Việt phải đi mượn chữ Tàu ghi lại tiếng Việt.

Và giờ đây, hạnh phúc thay. Chúng ta đã có được bảng chữ cái của riêng mình. Một bảng chữ cái dựa trên các ký tự La Tinh nhưng vô cùng uyển chuyển và dễ học.