Ngày ấy…

Giọt sương sớm, long lanh đầu ngọn cỏ.

Nắng ban mai, lấp lánh mái hiên nhà.

Nhạc trong xóm, bắt đầu cho ngày mới.

Bài “gia binh”, mỗi sáng quá thân quen.

Con hẻm nhỏ, đi về ngày hai buổi.

Bước đến trường, lòng rộn những niềm vui.

Áo dài trắng, mẹ may hãy còn mới.

Vạt thước tha, trong gió quyện la đà.

Đôi chân sáo không ngừng thôi nhảy nhót.

Tiếng cười vang, rộn rã cả hư không.

Chiếc cặp táp, nặng trì đôi tay nhỏ.

Nặng vở sách, nặng luôn chùm cóc chín.

Nặng chì màu, nặng cả gói me khô.

Tuổi mười Sáu, tuổi trăng tròn mơ ước .

Tuổi ô mai, tuổi ước vọng không ngừng.

Nơi tôi đến, ngôi trường nằm khép nép.

Cạnh giáo đường, vang vọng tiếng kinh chiều.

Cây điệp đỏ, sân trường tràn ánh nắng.

Tiếng chuông reng, buổi học cũng bắt đầu.

Bảng phấn trắng, thầy cô cùng các bạn.

Tiếp theo nhau, giờ học cũng qua mau.

Đông qua hết, những ngày xuân tiếp nối.

Hạ đến rồi, quyển lưu bút chia tay.

Dòng mực tím, viết rồi còn nhớ mãi.

Tuổi học trò, tuổi của những vấn vương.

Nay xa quá, những ngày xưa thân ái.

Năm tháng dài, tuổi trẻ đã không còn.

Nơi đất khách, lòng sao luôn tưởng nhớ.

Nơi quê nhà, đã quá những đổi thay.

Bạn cùng khoá, nay khắp cùng thế giới.

Chung tay cùng, đắp lại một ngày vui.

Cùng tưởng nhớ, cùng nhau hoài niệm lại

Những ngày xưa… ngày cắp sách đến trường.

                                                                  Ngọc Hiệp.

 

 

 

Yêu thương.

 

Yêu con bướm nhỏ mong manh

Đong đưa theo gió giọt lành phấn hoa

Thương cho một kiếp người ta

Ngày ngày kiếm sống lê la vỉa hè

Yêu giọt mưa ướt hoàng hôn

Giọt rơi tí tách gợi hồn thơ dâng

Thương ai manh áo tơi mang

Còng lưng một cõi gian nan đường trần

Yêu màu hoa biếc mùa xuân

Ý tình gieo rắt hương thuần thắm tươi

Thương người quang gánh cong oằn

Hoa tươi chợ sớm mang xuân tới đời

Yêu con chim nhỏ líu lo

Cất cao tiếng hót nhỏ to với đời

Thương người hát dạo chơi vơi

Lạc loài giọng hát nửa vời thinh không

Yêu cơn gió gợn bâng khuâng

Gió gợi niềm nhớ nỗi buồn không tên

Thương ai tấm áo chênh vênh

Co ro nép bóng lênh đênh một đời.

Yêu màu thu thắm vàng rơi

Con  đường trải lá như khơi tiếng lòng

Thương người phu quét lưng còng

Bao nhiêu lá rụng nhọc nhằn bấy nhiêu

Yêu đôi én lượn lưng trời

Dạt dào điệu múa nói lời yêu đương

Thương người gãy cánh uyên ương

Chong đèn tưởng nhớ đêm trường cô đơn.

                     Như Mây.

 

 

Đoản khúc về Trường và Bạn.

*

                                                    “Thời giờ thấm thoát thoi đưa,

     Nó đi đi mãi có chờ đợi ai…”

BƯỚC ĐẦU VÀO TRƯỜNG…

Hồi tưởng lại một chút về quá khứ… nhớ ngày nào mới đây thôi mà đã 40 năm rồi kể từ khi rời khỏi mái trường thân yêu, nơi đã đọng lại trong lòng biết bao nhiêu là kỷ niệm thời mình hãy còn non trẻ, nhớ những ngày đầu tiên bước chân vào ngôi trường thân yêu nằm bên cạnh ngôi giáo đường cổ kính, trường Trung Học Vũng Tàu…

Năm Mậu Thân 1968 , năm binh biến, chiến tranh leo thang và cũng là năm chúng tôi thi tuyển vào lớp đệ thất trường công lập duy nhất của thị xã mang tên Trung Học Vũng Tàu. Đến ngày niêm yết thông báo kết quả tuyển sinh, tôi  và Lê Đình Tân hẹn nhau đi chung để xem kết quả. Hồi học ở trường Nam tiểu học tôi và Tân học chung lớp và chơi với nhau rất thân vì cùng nhỏ con nên được cùng ngồi cạnh nhau ở bàn đầu. Nhà của Tân ở cư xá sĩ quan đối diện với trường, còn nhà tôi thì ở trại Gia Long, nằm bên hông, cạnh trường Nam .

Tôi và Tân rủ nhau đi sớm, nhưng đến nơi thì bên trong cổng trường dưới gốc cây me tây to nơi đặt dãy danh sách thí sinh trúng tuyển đã chật ních học sinh đang bu đầy chen chúc nhau dành xem kết quả.

Tôi, vì nhỏ con và đi trễ, nên không chen vào phía trên đầu bảng được, và bị đẩy lùi về phía cuối cùng. Dò ngược danh sách từ dưới lên trên, chen chúc nóng nực, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, căng mắt tìm một hồi lâu mà cũng vẫn chẳng thấy tên mình đâu cả. Tôi lo lắng và sợ sệt. Sợ vì nếu mà không có tên thì chắc là rớt và phải ở lại học lớp tiếp liên thì mắc cở lắm. Nhưng mà điều đáng sợ nhất là về nhà thế nào cũng sẽ bị lãnh một trận đòn bởi không nghe lời bố, không chịu lo ôn bài chuẩn bị cho kỳ thi cho tử tế mà chỉ lo ham chơi đánh bi đánh đáo.

Tôi dò đến hơn phân nữa danh sách thì bị chen ép đẩy tuột ra phía ngoài sau. Tôi đứng lo lắng, nước mắt đang chực trào ra.  Nước măt chưa kịp chảy thì tôi nghe tiếng Tân kêu “Hoàng ơi! mày đây nè, đây nè, mày đậu hạng năm lận”.  Tôi nhìn qua phía bên trái nơi Tân đang xem bảng, ráng chen vào đứng cạnh nó. Tôi nhìn theo ngón tay của nó thì thấy tên mình trên bảng danh sách. Khi này thì nước mắt tôi trào ra thực sự vì mừng rở. Hai đứa nấn ná một lúc, xem đi xem lại kết quả. Tân cũng đậu thứ hạng cao. Sau này hai đứa không còn học chung và thân nhau nữa vì Tân chọn Anh văn là môn sinh ngữ chính, còn tôi thì lại chọn Pháp văn. Trong sáu lớp đệ thất tuyển vảo năm đó chỉ có duy nhất một lớp Pháp văn, trong khi có tới năm lớp Anh văn. Lớp đệ thất P của chúng tôi có sĩ số khoảng  50 người, nửa trai nửa gái. Hai thủ khoa năm đó bên nam là Chung Hoa và nữ là Nguyễn Hương Quê đều đầu quân vào lớp đệ thất P.

NHỮNG NGƯỜI BẠN NAY KHÔNG CÒN…

Chúng tôi là lớp Pháp văn duy nhất trong 6 lớp đệ thất của niên khóa 68-75. Cùng học chung với nhau suốt từ lớp 6 đến lớp 9. Chuyện về các bạn lớp tôi mà từ ngày xưa chúng tôi đã mặc định gọi tên là gia đình 9P  thì nhiều vô kể. Hôm nay tôi xin được góp nhặt lại vài mẫu chuyện về các bạn đã không còn hiện diện trên cõi đời này nữa, gọi là một chút tưởng nhớ.

Trước tiên xin được nhắc đến Phan Trường Tuấn, một gương mặt hiền lành. Tuấn có dáng người cao ráo nho nhã, hơi có vẻ mảnh mai mà ngày xưa mình hay gọi là đói ăn còn thời đại bây giờ thì được gọi là siêu mẫu. Nhà Tuấn ở xóm vườn, cha là công chức ty Tràng tiền. Trong những năm học chung thì hầu như rất ít được nghe tiếng của anh ta, vì Tuấn hiền như cục đất, hể gặp mặt thì lúc nào cũng cứ cười cười. Trong lớp Tuấn ngồi chung với xóm nhà lá nhưng chẳng bao giờ được lên văn phòng giám thị để được vinh danh cấm túc như các bạn xóm này (lớp Pháp văn nổi tiếng phá phách, hay đánh nhau với các lớp khác). Hiền là vậy nhưng Tuấn lại ra đi quá sớm, bỏ lại người thân và bạn bè. Tuấn ra đi trong một chuyến vượt biển mưu tìm một cuộc sống mới nơi đất khách quê người. Tuấn biến mất biệt vô âm tín để lại bao nhớ thương trong lòng bạn bè về một người bạn hiền lành, chăm chỉ, một gương mặt sáng sủa đẹp trai phải sớm ra đi vì thời cuộc.

Nhân vật thứ hai với tính cách hoàn toàn trái ngược . Rất đẹp trai, học thì không khá nhưng phá thì vô địch. Đó là anh chàng Huỳnh Bửu Ngọc. Nhà Ngọc cũng ở xóm vườn, cũng có cha là công chức. Ngọc ngồi dãy bàn giữa cận xóm nhà lá. Gương mặt đẹp trai. Tóc mái trước hơi dợn quăn tự nhiên nên hay đưa tay làm dáng vuốt lên điệu nghệ. Áo luôn phẳng phiêu ôm sát người. Quần bó ống loe đúng mốt và chân đi đôi giầy Mọi,   thời trang lúc bấy giờ. Chỉ phải tội là hay cài bảng tên ở dây thắt lưng. Ngọc là khách hàng quen thân của cô Sâm giám thị và thầy La Quang Hải.

Năm lớp 9P, lớp Pháp văn tọa vị ở đầu dãy phía sau, cách một lối đi là hồ nước dùng cho phòng thí nghiệm và để rửa tay. Đây cũng là nơi mà các bạn nam trong lớp hay ngồi chơi khi vào lớp sớm, hoặc trong giờ ra chơi để điểm danh các em gái lớp đàn em hay đi ngang qua. Một hôm khi tiếng trống vang lên báo giờ ra chơi chấm dứt thì có vài cô bé chạy lại hồ nước vội rửa tay để vào lớp học. Lúc đó anh chàng Ngọc cũng đang rửa tay. Một cô bé đến lấy cái thùng xách nước đang để trên cạnh hồ mà anh Ngọc đã múc sẵn. thấy vậy Ngọc mới giằng co cái thùng với cô bé. Cứ nghĩ là lớp đàn anh thì phải nhường cho em gái lớp dưới nên cô ta cứ giật lấy cái thùng. Chỉ có điều là cô không ngờ là mình gặp tay bặm trợn thứ thiệt, chẳng những không nhường mà khi giật được cái thùng đầy nước anh Ngọc ta sẵn tay đổ thẳng lên đầu cô bé luôn. Tội nghiệp cô bé vừa khóc vừa đưa tay lên ôm ngực vì chiếc áo dài bị ướt hết chạy một mạch về lớp luôn mà khỏi cần phải rửa tay nữa. Sau đó thì Ngọc ta được thầy Hải điệu lên phòng giám thị để lãnh thêm huy chương vàng là một cấm túc.

**

Cuối năm lớp Mười, Ngọc đến tuổi quân dịch và đăng ký vào binh chủng nhẩy dù. Không biết cuộc đời binh nghiệp sống hùng sống mạnh của Ngọc ra sao nhưng đến gần ngày giải phóng thì được tin là dù của anh ta không còn bọc nữa ,mất tông biệt tích luôn từ đó! Ngọc đã mãi mãi ra đi để lại tiếc thương trong lòng bạn bè mà mỗi lần họp lớp là luôn được nhắc đến.

Chúng tôi có bốn năm đệ nhất cấp học chung với nhau, đến năm lớp 10 vì phân ban kẻ theo ban A, người theo ban B, một số bỏ trường lớp về Sài Gòn học tiếp, lại còn thêm vài thằng bạn đến tuổi quân dịch phải bỏ lớp lên đường nhập ngủ tòng chinh. Thế là tan đàn xẻ nghé .Tuy nhiên, những người bạn Pháp văn, sau bao nhiêu năm đến nay vẫn gắn bó như ngày nào. Mỗi lần có dịp tụ họp gặp gở thì thật là vui, bao nhiêu chuyện cũ trong lớp lại được đem ra kể lại để cùng nhau sống lại những ngày tháng thân thương của tuổi học trò. Những người còn hiện diện thăm hỏi nhau về những bạn bè xa xứ, có chút ít thông tin về ai thì kể cho nhau nghe, nhắc nhớ nhau về những người bạn vắn số rồi cùng nhau bùi ngùi thương tiếc.

                                                Nguyễn Kim Hoàng_ 4/2015.

                                  ĐS ChsTHVT 68-75 “ 40 Năm Ngày ấy…Bây giờ”

*** Hình tư liệu từ kho ảnh, không hẳn minh họa đi kèm bài viết.

Bạn của tôi Thinh và Tân.

 Hoàng Nghĩa Hưng(A3)

Nguyễn  văn Thinh học chung với tôi từ năm lớp bốn ở trường Nam Tiểu Học. Ngày nhỏ Thinh bé con, tóc luôn húi cua, cười hai má lúm đồng tiền trông rất dễ mến, có điều giọng nói thì không hiểu sao cứ khàn khàn như vịt đực, có lẽ vì thế trong lớp bọn nó cứ gọi Thinh là “ông già”. Thinh học giỏi, năm nào cũng được lĩnh thưởng, tính nết lại hiền lành chứ không hay nghịch ngợm như tôi, thế mà hai đứa lại chơi thân với nhau mới lạ. Tôi còn nhớ nhà Thinh đông anh em lắm, có lần Thinh dắt tôi về nhà giới thiệu anh này, chị kia, nhiều quá tôi không nhớ hết mặt. Nhà Thinh nằm ở góc đường sát bên trường, đi bộ chỉ dăm phút là đến.

Ba má Thinh có tủ sách cho mướn đủ các loại truyện. Tôi thì mê đọc truyện nhưng không có tiền để thuê, Thinh biết ý cứ thỉnh thoảng lại đem vào lớp cho tôi mượn, dĩ nhiên là không phải trả tiền. Bù lại Thinh bắt tôi vẽ cho Thinh hình Batman, siêu nhân rồi cấ tkỹ vào tập, Thinh mê hình tôi vẽ lắm. Vào trung học, tôi và Thinh lại vào cùng lớp 6A3, tuy hai đứa không còn ngồi chung dãy nhưng vẫn chơi thân với nhau đến lúc lên lớp 10. Tôi vào 10B1 cònThinh ở 10B4, từ đó hai đứa thỉnh thoảng mới có dịp gặp nhau. Bành chí Tân thì mãi vào lớp sáu tôi mới quen, nhưng lại là một trong hai người bạn thân nhất trong thời Đệ nhất cấp (cấp hai bây giờ) của tôi. Tân người gốc Hoa, nhà có tiệm cắt kiếng ở Bến Đình. Giống như Thinh, Tân cũng có biệt danh, bạn bè gọi Tân là “ông Bụng”. Thực tình đến bây giờ tôi vẫn không hiểu sao bọn nó lại gọi Tân như vậy vì tôi nhớ bụng Tân đâu có bự.

Tân hay ngồi chung bàn với tôi, học giỏi nên năm nào cũng được bầu làmTrưởng lớp hay Trưởng ban học tập. Tân hay cười, mỗi khi đắc ý thì cứ giật nảy người lên để cười, tay lại hay xoa vào bụng. Ồ hay là tại cái tật này mà Tân thành “ông Bụng”? Ông Bụng mê truyện của Duyên Anh kinh khủng, trong lớp cứ lén để cuốn truyện dưới hộc tủ để đọc. Mỗi khi đến đoạn nào thấm ý lại cười rúc rích như chuột vậy. Tân học chung với tôi đến hết năm lớp 9 thì từ giã để về Sài gòn theo học tại Petrus Ký, nhưng thỉnh thoảng có dịp về Vũng Tàu, Tân cũng lại ghé thăm tôi.

Sau 75, tôi không có nhiều dịp để gặp lại bạn cũ. Lần cuối tôi gặp lại Thinh và Tân là khoảng năm 78, Thinh bấy giờ khác hẳn thời đi học, cao hơn tôi gần nửa cái đầu, nghe nói vì Thinh hay đi bơi và bơi giỏi lắm. Tân thì có ghé nhà chơi với tôi cả ngày và ngủ lại, hai đứa tâm sự với nhau suốt đêm. Tôi nhớ lần đó chẳng có gì đãi Tân ngoại trừ luộc hai trái trứng vịt chấm nước mắm hai đứa ăn chung, thế mà Tân khen ngon đáo để. Sau đó không lâu, trong dịp về thăm nhà, tôi nghe bạn bè báo tin Thinh và Tân đã ra đi vĩnh viễn trong một tai nạn đường biển. Nghe nói vì Tân không biết bơi nên Thinh đã dìu Tân và chết chung với bạn.

Ngày nghe tin dữ tôi đã thảng thốt như không tin ở tai mình. Ngay đến tận bây giờ, khi ngồi gõ những dòng chữ này tôi vẫn thấy nước mắt mình như trực trào ra khi nhớ về hai người bạn cũ. Hai người bạn thân của tôi… mà chắc có lẽ cả đời này tôi không bao giờ quên được hai nụ cười dễ mến đó.

                                                Hoàng Nghĩa Hưng_2015.

 ĐS Chs THVT 68-75 “40 Năm Ngày ấy..Bây giờ” .

Huyền thoại dòng nước mắt.

Dẫn nhập:

Theo niềm tin của người Công giáo ( Sáng thế ký) thì trước khi tác tạo con người Thiên Chúa đã tạo dựng Thiên thần đẹp đẽ. Nhưng có một số kiêu ngạo nên bị trừng phạt trở thành quỉ chuyên đi cám dỗ con người vì ganh tỵ. Thế rồi con người cũng sa ngã nhưng biết ăn năn nên được tha thứ và được cứu chuộc,nhưng phải chịu nhiều đau khổ rồi cuối cũng là phải chết. Kiếp sống sau mới là vĩnh viễn và hạnh phúc hay đau khổ tùy thuộc vào những việc làm của kiếp này.

Ngày xửa, ngày xưa  khi trần gian còn nguyên sơ, buổi binh minh thơm ngát  bụi hồng hoang; ráng chiều chưa vương làn khói xám lửa rơm buổi cơm chiều của con cháu loài người.Adam từng bước chân trần lên ngôi Hoàng đế địa cầu trên lớp đất mềm chưa vướng chông gai và cỏ non mịm hiền hòa cúi mình đón bước chân chàng. Ngai vàng chàng ngự là những phiến đá được thiên nhiên mài dũa qua bao tỷ năm. Áo choàng của chàng được dệt bằng những sợi tơ hiền hòa của tiết mùa và Vương miện trên đầu chàng là hào quang vinh dự “thống trị muôn loài”.

Trần gian tuyệt mỹ với muông thú, cá chim. Cỏ cây thơ mộng bên sông suối mơ màng. Biển mênh mông, núi non hùng vĩ. Adam ngây ngât trong hạnh phúc tưởng chừng bất tận. Nhưng bỗng một hôm chàng cảm thấy một nỗi cô đơn nhen nhúm trong hồn. Chàng hoang mang hỏi Chúa:

_ Phải chăng công trình tạo dựng của Ngài chưa hoàn tất, dường như còn thiếu một điều gì đó phải không?

Chúa trả lời :

_ Con cứ an tâm, chuyện đâu còn có đó, hãy cứ lo tận hưởng những gì đang có đi!

Thế rồi chàng yên tâm lững thững đi ra bờ hồ ngồi ngắm cảnh. Cúi xuống mặt hồ chàng bỗng bắt gặp một con người không biết từ đâu đến.

_ A!Thế là từ nay ta đã có bạn.

Chàng sung sướng! Từ đó, ngày ngày ra bờ hồ trò chuyện với nhân vật mơ màng mà chàng chưa hề biết cội nguồn của hắn. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn chàng lại vô cùng chán nản vì cái gã “gà mờ” kia chẳng biết được điều gì hơn chàng. Adam kiếm chỗ ngủ liên tiếp nhiều ngày,bỏ mặc người bạn bíẩn mới quen trong hồ nước.

_Ráng chịu đi em, ai bảo mày ngu quá!

Thức dậy sau giấc ngủ dài, Adam được Chúa dẫn đến trao cho chàng một tác phẩm mới thật tuyệt  mỹ từ vóc dáng đến ánh mắt, nụ cười.

_ Đây là Eva, từ nay con sẽ không còn cô đơn nữa. Ta hy vọng rằng con sẽ không hối hận khi có nàng.

Adam  cám ơn rối rít, chỉ sau vài phút ngỡ ngàng chàng đưa Eva đi giới thiệu mọi ngõ ngách vườn Địa đàng với niềm hạnh phúc ngập hồn. Tay trong tay, chàng khám phá thêm một kho tàng “ cảm xúc” vô cùng quí giá vượt trên tất cả mọi “tài sản” trong vườn địa đàng này. Sau một thời gian khắn khít, đắm chìm trong hạnh phúc tuyệt vời Adam chợt nhớ tới người bạn trong hồ nước, chàng đến thăm tiện thể giới thiệu cho hắn người bạn đờicủa mình.

Nghiêng mình cúi xuống mặt hồ chàng thấy “cái bản mặt” của nó cũng như ngày nào. Eva khép nép sau lưng rồi nhẹ nhàng tựa cằm lên vai chàng nhìn xuống. Adam chưa kịp chào hỏi đã đổ quạu:

_Tại sao mà từ khi quen biết mi ta không biết thêm điều gì mới lạ cả, mấy hôm trước thì cứ ta nói câu gì thì  mi nói câu đó, ta hỏi mi điều gì thì mi lại hỏi lại điều đó. Đến hôm nay ta có “cái gì” mi cũng có “cái đó” thế là làm sao?

Eva tủm tỉm cười:

_Đó chỉ là cái bóng của chàng thôi, nhìn kỹ mà coi có phải người  đàn bà bên cạnh cái bóng đó giống hệt em không?

_Chúa ơi bây giờ con mới hiểu ra, nàng đã đẹp lại còn thông minh nữa, thế mà hổm rầy con cứ tưởng chàng trai đó là con Long vương hay Hà bá chứ con đâu có dè đó chính là con,“cũng khá đẹp trai”ấy chứ! Lạy Chúa, sao mà Ngài quá tài ba!

Hạnh phúc tràn đầy phủ quanh đời sống bình an vì có thêm người để suy xét, phân tích mọi tình huống trong cuộc sống hàng ngày. Adam trở nên lười suy nghĩ từ khi được Eva chỉ cho chàng thấy được chính mình.

Rồi một ngày lịch sử sang trang khi Adam nuốt phần còn lại của trái Cấm vườn Địa đàng. Adam và Eva đi tìm nơi ẩn nấp, họ trốn chạy Thiên Chúa và ngay cả chính mình.

_Adam.

_ Dạ con nghe, nhưng bữa nay con bận rồi!

_ Ta đã biết rồi con ạ! Từ đây về sau con sẽ còn “bận” dài dài không còn “tồng ngồng” thong dong, thoải mái như trước đây nữa đâu. Thôi ráng mà moi óc vẽ kiểu thời trang cho cái “bận “ của con đi.

Adam lúng túng muốn trì hoãn thời gian ra trình diện để suy tính cho “một cái gì đó”đang biến đổi trong chàng. Nhưng không còn cách nào thoát thân, chàng quì xuống gào lên thảm thiết.

_ Lạy Chúa, Chúa biết cả rồi! Hỡi đám mày râu hậu duệ của ta ơi ! Chúng bay đừng có thằng nào dại dột nghe lời đàn bà như Adam này.

Chúa hỏi:

_Eva, sao vậy con?

Eva thút thít:

_Chúa ơi, xin gọi con rắn mà hỏi.

Chúa gọi Luxiphe:

_Ngươi đã làm gì? Có phải ngươi muốn họ cùng chung số phận của ngươi cho có bạn nên đã cám dỗ họ phải không?

Quỉ vênh váo:

_Cám dỗ là nghề của tôi, chúng nó nghe theo thì phải ráng chịu.

Lúc này con rắn đã hiện nguyên hình quỉ dữ với mình mẩy nhớp nhúa, có nanh, có sừng lại có thêm cái đuôi dài lê thê.

Eva rùng mình khiếp sợ, nức nở:

_Lúc đó nếu con thấy được hình hài kỳ quái,  ghê tởm của nó thì con đã không nghe nó rồi. Nó đã chỉ là con rắn với lời lẽ ngon ngọt, dịu dàng.

Chúa ôn tồn:

_Thật ra lời khuyến dụ của nó đã vô cùng phi lý rồi, nếu ăn trái cấm vào mà có lợi thì nó đã làm rồi, nó không chừa cho con đâu. Thường ngày Adam đã từng thán phục khả năng nhận thức tinh tế của con, hôm nay con để nó đâu rồi? Còn Adam, có thêm người để có thêm suy tính mà sao từ khi có Eva hình như con bỏ cái đầu thông minh trong “hồ nước “rồi phải không? Nên bây giờ chúng con chỉ còn có nước rủ nhau “đi chết” cho rồi.

_Lạy Chúa!chúng con đã mắc tội xin ngài thứ tha!

Adam gục đầu nức nở, mắt chàng sáng lên vì dòng lệ đã giúp chàng rửa sạch bụi mờ của tham vọng u mê. Chàng đau đớn nhận biết rằng loài  người còn có khả năng “khóc” và đây cũng là lần đầu tiên chàng phải dùng đến. Tiếng Khóc “Đàn ông “ Của Adam làm Thiên Chúa mủi lòng Ngài liền phán bảo hai người :

_Ta sẽ ban cho các con một đấng cứu thế sau này.

Liền ngay lúc ấy, Luxiphe nhảy vào khiếu nại :

_Ngài chẳng công bằng chút nào cả, xưa kia khi chúng tôi phạm tội ngài nỡ trừng phạt chúng tôi xấu xí như vầy, còn chúng nó thì ngài lại cứu vớt.

_Ngươi có bao giờ ăn năn, khóc lóc đâu mà bảo ta cứu vớt.

_Ngài đâu có tạo dựng chúng tôi có thể chất như chúng nó đâu mà biểu khóc lóc với ăn năn.

Nói xong nó chỉ vào mặt Adam và Eva mà dõng dạc nguyền rủa:

_Ta sẽ làm cho loài “có nước mắt “ chúng bay phải khóc thành sông, những đôi mắt long lanh kia phải đổ lệ trăm dòng.

Lời nguyền kia xoáy nát tâm can, hai người thất thểu nhìn lại giang sơn mình. Không có gì thay đổi nhưng sao lòng buồn rười rượi, lê bước chân trên nền đất dường như nhiều đá sỏi, chông gai. Ôi! Không phải thế đâu, thường ngày họ vẫn dẫm phải gai nhưng họ ngồi xuống bên nhau, dịu dàng, tình tứ nhổ những mảnh đau đớn cho nhau trong tình yêu như nắng ấm chan hòa. Bây giờ tình đã héo hon! Rồi đổ lỗi cho nhau, đổ qua đổ lại nhiều quá thành ra “đổ thừa “, nước mắt  lại rơi!

Bây giờ cả hai đều không còn dám ngắm nhìn hình ảnh mình trong hồ nước nữa, họ muốn hồ nước kia lưu giữ mãi những gì của hôm qua. Cuộc sống trước nay có đầy khó khăn, thử thách họ đã vượt qua một cách thú vị, nhưng hôm nay sao đắng cay ngập hồn. Adam trở nên tư lự và có lẽ bắt đầu từ đó chàng mới chịu xử dụng đầu óc thông minh của mình một cách triệt để hơn. Lời Chúa hôm nào:”đừng ăn trái này kẻo phải chết” và chàng đã được nhìn thấy sự chết xảy ra trên sinh vật nhưng hôm nay cảm giác sợ hãi mới đến với chàng. Một cành cây bị gió đánh gãy, một cây cổ thụ già chết đứng bên sông….chúng từ từ vàng úa, héo khô rồi mục nát. Cái chết trên cây cỏ đã tiêu điều nhưng chưa khủng khiếp, thê lương như trên các loài cầm thú. Con cọp  hiên ngang giữa núi rừng ngày nào khiến bao nhiêu loài phải khiếp vía, kinh hoàng thế mà một ngày cuối đông năm trước đã phải nằm yên cho sâu bọ rúc rỉa, oai linh chỉ còn cô đọng khối tanh hôi.

Thân phận của mọi sinh vật tồn tại và mất đi để quân bình cho trái đất này? thế mà từ nay Adam và  Eva rồi con cháu sẽ bị giáng xuống như chúng: chết queo khi nguồn sinh lực bị rã rời từng đoạn nơi thể xác. Ngày đó đơn độc và buồn thảm vô cùng, con người sẽ nằm yên  mặc cho đôi mắt linh hồn kề cận bên đôi mắt thể xác mà réo gọi, van xin sự hé mở chỉ một chút thôi, cho nó được trở về làm xong thủ tục ăn năn cuối đời. Mặc bao tiếng khóc, tiếng gào, bao dòng lệ nóng đổ ra cũng không làm ấm lại trái tim băng giá đã từ chối đập đều nhịp yêu thương. Con người là một tạo vật kỳ diệu từ hư vô mà đến nhưng lại không có đường trở về hư vô nên chết rồi  vẫn còn phải “lang thang”.

Dòng nước mắt chảy vào trần gian từ ngày ấy đến nay vẫn còn lênh láng, phải chăng “lời nguyền “ kia quá cay nghiệt nên vẫn còn công hiệu cho đện tận ngày nay.

  Cung Thương

Tháng 1 năm 1998

Thăm mộ cụ ALEXANDRE DE RHODES.

Sưu tầm.

Xin cám ơn người, một vị đại ân nhân của những người con nước Việt. Xin tri ân người với lòng kính yêu sâu sắc người tạo ra chữ Quốc Ngữ Việt Nam:  ALEXANDRE DE RHODES

Câu chuyện về người con đất Việt tìm thăm lại mộ ngài Alexandre de Rhodes ở miền đất xa xôi, làm cho người đọc cảm thấy ấm lòng.
Anh Trường là hướng dẫn viên du lịch, đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa nhưng trong lòng vẫn mong ngóng về một điều bấy lâu, đó là được tới tận nơi ngài Alexander De Rhodes an nghỉ, đặt lên mộ ngài một bó hoa và nói nên lời cảm tạ từ đáy lòng.
“Từ thuở còn sinh viên, khi được học về nguồn gốc chữ quốc ngữ mà chúng ta có được để sử dụng một cách dễ dàng và tiện lợi như ngày nay. Tôi đã thầm cảm ơn những nhà truyền giáo phương Tây, đặc biệt là Alexandre de Rhodes, người đã có đóng góp lớn lao trong việc hoàn thiện hệ thống bảng chữ cái cho người Việt Nam của chúng ta. Và may mắn thay, trong chuyến đi Iran lần này. Một cơ duyên vô cùng quý báu đã giúp tôi có cơ hội đến viếng thăm ngôi mộ, nơi yên nghỉ của ông trong một nghĩa trang nằm ở ngoại ô của thành phố Esfahan, Iran.


Vùng đất Esfahan, Iran nơi ngài Alexandre de Rhodes an nghỉ. Ảnh google map

SỰ CHỈ GIÚP CỦA NHỮNG NGƯỜI BẠN TỐT BỤNG

Từ lời gợi ý của một chị bạn, chúng tôi biết được thông tin về ngôi mộ của Alexandre de Rhodes được an táng trong một nghĩa trang công giáo của người Armenia tại Esfahan. Nhưng do thời gian lưu lại nơi đây khá ngắn, vì thế hy vọng được đến viếng thăm ngôi mộ của ông là khá mong manh cho chúng tôi.
Khi nghe chúng tôi nói về ước nguyện của mình, cô Malih- một hướng dẫn viên người Iran vô cùng thông cảm và hết sức tận tình giúp đỡ. Mặc dù với thâm niên hơn 10 năm làm nghề hướng dẫn viên, đã đưa biết bao nhiêu đoàn khách từ khắp năm châu đến thăm Esfahan, nhưng là người Hồi giáo cho nên cô chưa hề biết đến thông tin về khu nghĩa trang người công giáo Armenia nằm ở đâu. Và cô cũng không hề biết đến thông tin nào về Alexandre de Rhodes.


Người đã giúp anh Trường có được tờ giấy phép vào thăm mộ ngài Alexandre de Rhodes

Sau quá trình tìm kiếm, thông qua một người bạn gái gốc Armenia, cô Mila hỏi thăm được địa chỉ của nghĩa trang. Nhưng vấn đề là không phải ai cũng được vào thăm nghĩa trang. Mà cần phải có sự đồng ý của người quản lý ở nghĩa trang.
Một lần nữa, chúng tôi may mắn gặp được một vị quản lý ở nhà thờ Vank, ông đã nhiệt tình viết cho chúng tôi một tờ giấy phép để xuất trình cho người quản lý ở nghĩa trang.
Cầm tờ giấy trên tay, chúng tôi vội vàng đi về phía ngoại ô thành phố Esfahan. Nơi có nghĩa trang của cộng đồng người Armenia sống tại đây.
NƠI NGƯỜI NẰM XUỐNG

Trước mặt chúng tôi là một nghĩa trang rộng lớn. Những dãy mộ xếp hàng dài nối bên nhau mênh mông. Chúng tôi biết là sẽ không dễ dàng để tìm ra vị trí lăng mộ của ngài. Chúng tôi tìm gặp một cụ già quản mộ ở đây dò hỏi. Cụ nhanh chóng lên xe đưa chúng tôi đến ngôi mộ có tên Alexandre de Rhodes….


Đường vào nghĩa trang nơi ngài Alexandre de Rhodes an nghỉ

Hôm chúng tôi đến, là ngày đầu năm mới của tết cổ truyền Nowruz của người Ba Tư (Iran), một vài ngôi mộ gần đấy được đặt những chậu hoa. Còn ngôi mộ của ông không có một cành hoa nào, đó chỉ là một nấm mồ nhỏ làm bằng một tảng đá hình chữ nhật nằm khép mình khiêm tốn bên những ngôi mộ khác.


Anh Trường cùng mọi người mua hoa trước khi đến thăm mộ ngài Alexandre de Rhodes
Một niềm xúc cảm thân thương nghẹn ngào mà tôi không thể tả thành lời đang tuông chảy trong tôi. Đây là nơi an nghỉ của người đã có đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc Việt Nam. Dưới lớp đất ấy là thi hài của một người phương Tây xa lạ.
Ông đã mất từ gần 4 thế kỉ trước nhưng ông là người đã giúp cho dân tộc Việt Nam có được một bảng chữ cái với các thanh sắc uyển chuyển nhẹ nhàng, nhằm để ghi lại và diễn đạt tiếng mẹ Việt Nam.


Mộ ngài Alexandre de Rhodes

Đặt một chậu hoa tím mua được trong một hiệu bán hoa tết của người Iran lên mộ ông. Chúng tôi không ai nói lời nào. Nhưng giữa chúng tôi có một sự đồng cảm sâu sắc. Chấp tay lên ngực, tôi khẻ cúi đầu xin gửi đến người một lời tri ân sâu sắc.
Nhìn thái độ thành khẩn và tôn kính của chúng tôi dành cho người nằm dưới nấm mộ. Người quản trang hỏi cô Malih: ông ấy là ai mà chúng tôi có vẽ tôn kính thế.
Và ông đã vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng đây là người đã có công hoàn thiện bản chữ cái cũng như xuất bản những quyển tự điển Việt -Bồ- La tinh đầu tiên cho người Việt Nam từ những năm 1651.


Người con Đất Việt đặt lên mộ ngài bó hoa tươi thắm với tấm lòng thành kính

NGƯỜI QUẢN NGHĨA TRANG
Qua cuộc chuyện trò, tôi đuợc biết người quản trang có tên gọi là Rostam Gharibian, ông đã làm việc ở đây được 17 năm.
Tôi hỏi, trong 17 năm đó có bao giờ ông thấy ai là con cháu hay người thân của ngài Alexandre de Rhodes đến viếng mộ ông ấy hay không.
Thoáng chút đăm chiêu, ông trả lời rằng: vì là một thầy tu cho nên khi mất đi cũng như bao người khác Alexandre de Rhodes cũng không có vợ con. Và họ hàng thì cũng ở xa tít tận châu âu cho nên chắc cũng không ai còn nhớ.
Vì thế trong 17 năm nay ông cũng chưa hề nghe thấy một người họ hàng hay con cháu nào của ông đến thăm. Chỉ thĩnh thoảng đôi khi ông thấy có một vài người Việt Nam đến viếng mà khi đó thì ông cũng không biết họ là ai và có quan hệ như thế nào với người đã mất…


Anh Trường cùng người quản trang

THAY LỜI TRI ÂN
Theo truyền thống của những người Iran, tôi lấy một ít nước rửa lên nấm mồ của ông. Những giọt nước mát trong chảy lên bia mộ ông tựa như lời thì thầm của chúng tôi xin gửi đến người. Cả một đời ông cống hiến vì đạo. Và trong quá trình truyền giáo, với mục đích mong muốn truyền tải những thông điệp trong kinh thánh một cách dễ dàng hơn.
Ông đã không quản khó nhọc để tìm cách sáng tạo ra bảng chữ cái tiếng Việt. Và đến khi cuối đời, ngài đã lặng lẽ nằm lại nơi xứ người. Có lẽ giờ đây ông không còn một người bà con họ hàng nào nhớ đến ông để thỉnh thoảng ghé thăm chăm nom nấm mồ của ông nữa, nhưng có lẽ ông cũng ấm lòng khi biết rằng vẫn còn đó những người con nước Việt.
Vẫn còn đó hơn 90 triệu người con nước Việt trên khắp 5 châu sẽ Mãi Mãi không bao giờ quên ơn ông. Người đã có công vĩ đại trong việc chấm dứt 1000 năm tăm tối, 1000 năm khốn khó khi những người Việt phải đi mượn chữ Tàu ghi lại tiếng Việt.

Và giờ đây, hạnh phúc thay. Chúng ta đã có được bảng chữ cái của riêng mình. Một bảng chữ cái dựa trên các ký tự La Tinh nhưng vô cùng uyển chuyển và dễ học.

Nghịch Mưa.

Mùa Hè năm nay có những cơn mưa đến sớm. Có khi mưa nửa đêm ầm ào, sấm sét, có lúc mưa rào rào sáng sớm rồi nhanh chóng khô quánh, nắng lên hừng hững, cũng có lúc bất chợt lắc rắc rồi xối xả từ lúc nhập nhoạng đến hoàng hôn như muốn đuổi mặt trời đi ngủ sớm.

Mùa Hè năm nay nghe đâu lại “El Nino” nữa.. Khí hậu, thời tiết ngày càng lạ, càng khó lường, người ta nói tất cả cũng do con người mà ra thôi…Ô lại “ mình giết mình”ư?

Mùa Hè, nóng thật! nhớ trong giờ nghe Pháp, giảng sư hỏi : _ Quí vị có thấy nóng không?

Mọi người đều đồng thanh: _ Dạ nóng quá Thầy !

Giảng sư cười và hỏi: _ À, vậy rồi quí vị làm sao?

Cả Đạo tràng hơi ..khựng lại. Tôi buột miệng : “ dạ…Quạt!”  Bà bạn kế bên  bật cười khi nghe tôi trả lời. Tôi cũng vừa cười vừa nói: ” Vậy thôi, chớ sao giờ?”

Giảng sư cười tủm tỉm :_ Nóng thì.. quạt.! Có quạt máy thì mở quạt máy, có máy lạnh thì mở máy lạnh, hông có.. thì…quạt tay! Ha!

Cười rần. Đơn giản thôi mà! Vậy mà có lúc mình ..ngẩn ngơ, có lúc mình chạy đi xa ôi là xa… Chạy đi , chạy lại hụt hơi rồi mệt quá ngồi nghĩ: “ Ủa sao mắc chi mà chạy dữ vậy?”  Khổ là chỗ đó!

Chiều nay, trời cũng bất chợt vần vũ rồi mưa, mưa nhè nhẹ rồi dần nặng hạt, rồi bầu trời bỗng trắng trắng, mờ mờ một màu nước. Chạy lên đóng hết mấy cánh cửa, thấy mưa bỗng dưng chợt nhớ đến cái máy ảnh.: “ sao không tập chụp mưa nhỉ?” Mưa rào rào, có cửa sổ mặt kính chỉ mờ mờ bóng nước, có cái nước chảy ròng ròng từng vệt dài loang lỡ, có chỗ thấy cây lá nhờ nhờ phất phơ,có chỗ nhìn ra thấy Núi lớn đằng xa mịt mờ, thêm mấy cái nóc nhà nhấp nhô, Thực.. cũng chả được cái “view” nào đẹp cả, trời chưa tối hẳn, đèn đường chưa lên, trong màn mưa chỉ thấy vách tường và nóc nhà hàng xóm.Nhưng đã bảo tập chụp mưa cơ mà, thôi thì cứ thử…tìm cái góc mà chụp chứ!Chụp sao cho ra những sợi mưa, những giọt nước…à ha!

Trên ban-cong thấy mưa rào rào ướt đẫm mấy thân hồng gai nhọn, nhìn mãi những giọt nước đọng trên nhánh cây tí tách nhỏ giọt, từng hạt nước lấp lánh trong sắc chiều nhạt tụ lại tròn trịa, lóng lánh, rồi rơi xuống vỡ tan, biến mất…Lại đứng lên qua khung cửa khác nhìn xuống cái sân loang loáng nước, những tàu cau mờ mờ phất phơ trong màn trắng, cái khung kính có những sợi mưa mỏng bay bay vì trời vẫn còn sáng nhờ nhờ ngoài kia. Mưa như khói và mưa như tơ !. Chợt nhìn sang khung cửa bên nầy, gió theo chiều, hắt những sợi mưa đập thẳng vào  kính, những sợi mưa biến thành từng vệt nước chảy dài, ràn rụa như nước mắt khóc người. ..Nhà có nhiều cửa sổ, tôi như đứa trẻ con nghịch ngợm, hết chạy lên lầu lại ..bò xuống đất.

Mưa vẫn cứ mưa… qua  từng ô cửa, cảnh vật bên ngoài cũng khác nhau, và..những hạt mưa hình như cũng khác. Có khung cửa vẫn nhìn thấy màu lá xanh tươi non như đang tắm trong nước hồi sinh, không còn khô cằn, queo quắt như dưới trời nắng lửa buổi trưa. Có góc khuất mưa làm những vạt lá thẫm màu, một màu tối buồn buồn dù trời chưa hẳn là đêm. Trên mặt kính những giọt nước dưới ánh sáng trời, dưới ánh đèn flash cũng khác.. Tôi cứ hí hoáy và tanh tách bấm… từng khung ảnh theo góc máy khác nhau hiện lên trên màn hình mỗi khi “review.” Trong cái cảm giác thích thú nhìn mỗi tấm ảnh về mưa vừa chụp được.. không dưng  chợt nhớ bài Kệ Phật nói trong Kinh Kim Cang:

“Nhất thiết hữu vi pháp,

Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ diệc như điện,

Ưng tác như thị quán.”

Dịch nghĩa:

“Tất cả pháp hữu vi,

Như mộng, huyễn, bọt, bóng,

Như sương, như chớp loé,

Hãy quán chiếu như thế.”

      Ừ nhỉ! Mưa từ đâu? Nắng từ đâu? Nước từ đâu? Trời đang nắng bỗng chốc rồi mây đâu bay đến, bỗng chốc rồi nắng nhạt nhòa , bỗng chốc rồi nước từ trời ào ạt. Trời vừa nắng nóng bỗng dưng dịu mát, cây lá vừa ủ ê chợt tươi tắn, mượt mà. Những giọt nước long lanh vừa lấp lánh giờ thì biến mất chỉ còn trơ thân hồng  ẩm ướt  ( khoa học giải thích rồi đấy chứ, từ đâu, từ đâu ai mà chả biết??? Ấy ấy.. vẫn có những cái đến..tận cùng vẫn chưa có lời giải đáp từ..khoa học?)

Giữa hè trời đang nắng nóng, mưa đến làm không khí dịu mát hẳn và lòng người cũng nhẹ nhàng, mát mẻ như mưa.. Tâm con người ta đấy, nó cứ đổi thay xoành xoạch từ sáng đến tối mờ. Khi vui, lúc buồn. Cảnh ngoài trời cũng thế chớp mắt đã đổi thay nhanh đến không ngờ. Nhớ những buổi chiều lang thang ngoài bờ biển , hoàng hôn buông và sắc trời biến đổi thật lạ lùng , thật nhanh tưởng như trời đang làm ảo thuật. Rõ là cảnh như huyễn..như mơ.!Chẳng có cái gì mãi mãi cứ là như thế trước con mắt người.

                                      “Tất cả pháp hữu vi,

                                          Như mộng, huyễn, bọt, bóng,

                                           Như sương, như chớp loé”.

Vậy đấy, những lời vàng từ Kim khẩu của Như Lai, mấy ngàn năm vẫn không suy suyễn.. Hãy luôn sống với thực tại, hãy luôn quán chiếu, quán chiếu bằng con mắt của trí tuệ, bằng cái tâm chánh định, để nhìn rõ thực tướng của các pháp mà hài lòng, mà chấp nhận cái vô thường rõ ràng không sai chạy… để an vui, để thấy hạnh phúc hiện tiền.. Vậy mà… Ô thật thương cho mình quá thể! Đường sao còn xa quá Phật ơi!

                                                                AN_5/ 2017.