Tết Việt và tục viết câu đối.

Trong văn hóa truyền thống của người Việt xưa, tục treo câu đối trong nhà ngày xuân là một thú vui tao nhã thể hiện trí tuệ và nghệ thuật chơi chữ của người sử dụng câu đối.

Trong dân gian, mỗi dịp xuân về người ta thường truyền tụng câu:

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ

Nêu cao tràng pháo bánh chưng xanh.

Để chúng ta thấy rằng, câu đối là một phần tất yếu không thể thiếu trong ngày Tết cổ truyền của người Việt. Nó được coi như phần hồn trong bài trí gia đình ngày Tết. Người Việt treo câu đối như thể hiện trí tuệ và nghệ thuật chơi chữ của bản thân, đôi khi nó mang theo lời chúc tụng, lời mong cầu… nên câu đối không chỉ dừng lại ở giá trị thưởng thức mà còn là một phong tục truyền thống xa xưa của người Việt cổ. Được đánh giá như tinh hoa của nguồn cội, là món ăn tinh thần ngày Tết.

Trong phạm vi bài viết này, xin được gửi tới độc giả vài nét về quy luật cũng như nghệ thuật làm câu đối mà người xưa biến nó trở thành một thú vui tao nhã nhưng đầy chất trí tuệ thi ca.

Câu đối và những quy luật reo đối

Câu đối gồm hai câu (gọi là hai vế) đi song nhau, hai vế bằng nhau về số chữ, không vần nhau nhưng phải tuân thủ những quy tắc về cân xứng.

Câu đối có thể được dùng trong nhiều tình huống, và có thể do một tác giả làm ra. Ví như câu đối mà thể hiện một quan điểm, một sự nào đó, hay tâm tư tình cảm thì tác giả thường sử dụng vế đối, gọi là vế trên và vế dưới. Nhưng có thể là một người ra câu đối, còn người kia đáp lại câu đối thì người ta gọi người ra câu đối là vế ra, người đáp đối là vế đối. Trong dạng câu đối này, thường được dùng làm thước đo tỉ thí về kiến thức, khả năng văn chương chữ nghĩa, hay sự thông minh nhanh trí và tài ứng khẩu đối đáp của 2 tác giả, đặc biệt là người đáp vế đối.

Câu đối được viết dưới dạng chữ Hán, chữ Nôm, hay chữ Việt và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, hoàn cảnh khác nhau. Nhưng đã là câu đối thì việc tuân thủ niêm luật cấu tạo rất chặt chẽ, gò bó từ hình thức đến nội dung.

Về hình thức:

Số đoạn và số chữ của hai vế phải bằng nhau, trong mỗi đoạn tương ứng của hai vế cũng phải bằng nhau. Đối về tự loại tức là chiểu theo lối hành văn Hán Nôm thì thực tự (như trời, đất, cây, cỏ) phải đối với thực tự; hư tự (như thì, mà, vậy, ru) phải đối với hư tự.

Theo văn phạm ngày nay, danh/động/tính/trạng từ phải đối với danh/động/tính/trạng từ. Ngoài ra, tên riêng đối với tên riêng, số lượng đối với số lượng, hình ảnh/mầu sắc/âm thanh đối với hình ảnh/mầu sắc/âm thanh, tục ngữ/điển tích đối với tục ngữ/điển tích, chữ Hán/Nôm đối với chữ Hán/Nôm…

Còn về đối thanh: Trong tiếng Hán gọi là thanh điệu, tiếng Việt gọi là dấu thì phân ra, thanh bằng hay thanh ngang tức chữ có dấu huyền hoặc không dấu thì đối với thanh trắc tức chữ có dấu sắc, nặng, hỏi, ngã và ngược lại. Ngoại lệ nếu không áp dụng theo nguyên tắc này thì chữ cuối mỗi đoạn tương ứng của hai vế (đặc biệt là chữ cuối của hai vế) phải bằng/trắc đối với trắc/bằng.

Tuy nhiên nếu câu đối được tạo ra do một tá giả thì chữ cuối vế trên phải là thanh trắc, và quy ước này không áp dụng cho vế ra.

Về nội dung:

Trong hai về phải đối với nhau về ý, phải cân nhau về ý của từng chữ, từng đoạn và từng vế. Đối ý rất khó nhất là trong các trường hợp vế ra có hàm ý, điển tích, thành ngữ,..Hơn nữa, đối ý rất khó trong trường hợp tức cảnh. Nếu vế ra dựa trên một sự kiện có thực hay vừa xảy ra thì vế đối cũng phải như vậy.

Bằng thủ pháp đối xứng, câu đối là một thể loại văn học cổ có giá trị cao, tiêu biểu về nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Xin được tham khảo câu đối nổi tiếng của nhà vua Trần Nhân Tông để thấy được những giá trị đặc sắc của câu đối và những nét đặc trưng của nó trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ.

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,

Sơn hà thiên cổ điện kim âu

(Trần Nhân Tông)

Xã tắc đôi phen chồn ngựa đá,

Non sông nghìn thuở vững âu vàng.

(Trần Trọng Kim dịch )

Có thể nói đây là một vế đối hoàn hảo cả về đối âm, đối ý và đối nghĩa. Trong câu đối này các âm đơn, âm đôi và cả cụm âm đều đối xứng với nhau rất rõ nét về mặt âm tiết:

Xã tắc (trắc trắc) đối với Sơn hà (bằng bằng)

Xét về ngữ nghĩa:

Xã tắc (đất nước) – Sơn hà (núi sông)

Lưỡng hồi (đôi phen) – đối với – thiên cổ (muôn thuở).

Những nét độc đáo trong nghệ thuật làm câu đối

Những câu đối độc đáo hay có giá trị là những câu đối vận dụng tài tình các lối chơi chữ, đặt câu.

“Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo Ma vương đưa quỷ tới.

Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước Xuân vào.”

Trong câu đối này của Hồ Xuân Hương là một thí dụ điển hình về lối chơi chữ, ví von đối ứng giữa Ma Vương và thiếu nữ, càn khôn với tạo hóa, cánh cửa đối với then cài. Nét nghịch đảo cách dùng từ nhằm tạo đòn bẩy mà tôn vinh vẻ đẹp nổi bật của Xuân.

Một nguyên tắc chung của các câu đối hay là phải có nhiều nghĩa.Có thể tức cảnh mà vịnh đối, hay dựa vào những điển tích, thành ngữ… mà ra đối. Những câu đối dạng này thường dùng ẩn dụ, mượn cảnh mà sinh tình, mượn vật mà nói người, mượn hiện tượng mà nói tới thế thời. Loại đối này dùng trí tuệ về văn chương, tài nghệ trong dùng từ cũng như thuật đặt câu để trào phúng, để biểu lộ ý tứ sâu xa.

Đây là một câu đối rất nổi tiếng, được mọi người truyền nhau mỗi dịp xuân về:

Tam tinh tại hộ tài nguyên vượng

Ngũ phúc lâm môn gia đạo hưng

Dịch:

Ba sao trong nhà tài nguyên vượng

Ngũ phúc đến nhà đạo nhà hưng

Các âm tiết ở đây đối chỉnh như sau:

Tam tinh đối với Ngũ phúc (bằng bằng – trắc trắc)

Tại hộ đối với Lâm môn (trắc trắc – bằng bằng)

Tài nguyên đối với gia đạo (bằng bằng – bằng trắc)

Vượng đối với hưng (trắc – bằng)

Trong câu đối này có nhắc tới tam tinh nghĩa là Phúc-Lộc-Thọ. Là biểu tượng cho ước muốn của muôn dân trăm họ. Về nghĩa, đây là một câu đối hoàn chỉnh về ngữ nghĩa đề cập đến việc cầu chúc cho tiền bạc và của cải được dồi dào, phúc đức và gia đạo được an lành và hưng thịnh.

Hiểu thêm về truyền thống Tết thâm thúy của dân tộc người Việt xưa, chúng ta càng mong muốn lưu giữ những nét đẹp tinh thần đã có tự ngàn đời này.

Dù Tết trong cuộc sống hiện đại có nhiều đổi thay, nhưng đâu đó trên góc phố, trong mỗi dịp đi lễ đầu xuân, vẫn còn bóng dáng của những thầy đồ ngồi bên mực tàu giấy đỏ để khai bút viết chữ. Tục xin chữ và cho chữ đang quay lại khẳng định một nét đẹp không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần dân tộc Việt. Đó là một thú vui tao nhã, một nét đẹp của trí tuệ ngàn đời.

                                                                  Tịnh Tâm.

Biển ngày không có nắng.

Có một ngày trời không có nắng, bầu trời xam xám từ sáng sớm. Từ “ban công” nhà nhìn ra chung quanh thấy đỉnh Núi Lớn mù mù trăng trắng làm nhớ Dalat hôm nào.  Màu mây sao ủ ê buồn thật buồn, lạc lỏng vài cánh chim lượn lờ , không nghe tiếng hót rộn rã thường ngày. Dự báo thời tiết có áp thấp, áp thấp có nguy cơ thành bão có khác!

Một vòng ra biển.. Biển cạn, ghe thuyền neo trên bãi cát yên lặng. Mặt nước xa tít  ngoài  kia. ..  Trên bãi cát mịn, ẩm ướt người ngồi, người đứng, người đi…Có những nhóm tụm ba,  tụm năm chuyện trò nhưng nhìn không vui lắm… Quen nhìn biển những hôm nước lớn, quen nhìn những con sóng tràn bờ, nhấp nhô tung bọt trắng xóa trên ghềnh đá, quen nhìn trời nắng trong xanh và màu nước cũng ngăn ngắt xanh, quen nhìn, quen nghe tiếng máy ghe xình xịch qua lại  rẻ nước trên mặt biển mênh mông… Biết sẽ có lắm người vui, dù rằng cảm giác trong lòng mình có.. một điều gì đó khi nghĩ đến con tôm, con cá đầy trong khoang tàu… Biển và những cuộc đời gắn liền với biển là thế mà.! Chuyện cũng bình thường!

Hôm nay, Biển cạn.. ghe thuyền không ào ạt ra khơi, nghe đâu có cơn bão xa đang hăm he đe dọa ..Thế nên người người hóa ra nhàn rổi… túm tụm chuyện trò, nghe ngóng … Nhìn người, nhìn biển trời một màu xam xám buồn chợt cũng thấy lòng không an ổn, cũng thấy ủ ê như màu mây nước.  Ôi,,, biết bao giờ mới “ nhìn núi là núi, nhìn sông là sông” đây? Khổ cái tâm chúng sinh của mình quá đỗi người ơi!

  

*** Một góc Bãi Trước một ngày có áp thấp gần bờ.

  AN_ 11/2017

Bạn tôi Mười hai bê.

Vũ thị Quyên.

Niên học bảy bốn bảy lăm,

Mười hai bê lớp chừng năm mươi người.

Trưởng lớp Thành Tựu hay cười,

Dáng người đĩnh đạc tốt tươi kém gì.

Lớp có chín bạn nữ nhi,

Thướt tha thục nữ Kim Chi, Kim Hoàng,

Nhu mì là bạn Thanh Lan,

Minh Châu nhanh nhẹn ngang tàng mà duyên,

Dịu dàng uyển chuyển Diệu Liên,

Vũ Quyên lóc chóc nhưng siêng học bài,

Xinh tươi như nụ hoa nhài,

Trần Dung nhị đẳng tóc dài thanh tao,

Nghiêm trang chị cả Kim Thao,

Bạn Thu Thủy có dạt dào tình cha.

Bên nam bạn Lý Xuân Hòa,

Hữu Liêm, Phương Hải cả ba nghịch ngầm,

Huỳnh Luận đạo mạo trầm ngâm,

Thanh Quang lí lắc mà tâm nhiệt thành,

Bê rê mũ trắng Quang Sanh,

Kim Bang chín chắn, Huy Thanh hiền lành,

Giải toán vừa đúng vừa nhanh,

Nghĩa Hưng, Đức Hạnh và anh Hữu Hùng,

Học sinh xuất sắc Thanh Tùng,

Thông minh là bạn Dân Hùng, Phùng Sơn,

Điền kinh gạo cội Đăng Sơn,

Huy Dũng, Mỹ Thắng tài đờn hát ca,

Ngoài ra còn rất mặn mà,

Công tác xã hội chan hòa niềm vui,

Ngọc Quý nét mặt tươi cười,

Quang Sang điềm đạm và luôn chuyên cần,

Tốt bụng là bạn Đình Tân,

Trầm tư Trọng Nghĩa, triết nhân Huỳnh Vàng,

Pháp văn nhóm bạn kết đoàn,

Chung Hoa cùng với Kim Hoàng, Ngọc Trân,

Phi Hùng trong nhóm rất thân,

Khi chơi lúc học quây quần cùng chung,

Đức Khánh phong thái ung dung,

Bạn Cơ, bạn Thái chẳng hùng hổ ai,

Tiến Dũng đáng mặt anh tài.

Anh văn luyện giỏi mấy ai sánh tày,

Dòng đời cứ mãi vần xoay,

Bạn tôi như cánh chim bay khắp miền.

Dù không còn tuổi hoa niên,

Mười hai bê vẫn một niềm trong tôi.

Những vần thơ lạc.

(Ghi lại những cảm xúc đầu đời của một thời đi học).

Hoàng Nghĩa Hưng (A3).

  ƯỚT MƯA.

Trời mưa ướt áo em tôi,

Nón che sao để ướt đôi vai gầy,

Mưa xuyên áo trắng thơ ngây,

Thẹn thùng em thả tóc mây nửa vời

Tần ngần tôi đếm mưa rơi,

Đường về bỗng chợt nhớ người ướt mưa.

HỮNG HỜ

Tóc mây ai thả nửa chừng,

Nửa rơi trước ngực , nửa dừng giữa lưng

Trách ai sao quá dửng dưng

Cách nhau dãy lớp chưa từng ngó  sang

Để cho bụi phấn ngỡ ngàng

Thẫn thờ đọng lại trắng trang sách buồn

Trời mưa, mưa để buồn hơn,

Ngồi trong lớp học sao hồn trong mưa

Ngập ngừng theo dấu buổi trưa

Tóc thề ai xỏa hương đưa xuân thì.

Mưa về để nhớ người đi,

Còn thương nón lá, hàng mi thẹn thùa

Người đi dáng nhỏ, đường xưa

Tôi về ngóng đợi cơn mưa cuối mùa.

 

HOA SỨ TRẮNG

Đường qua ngõ nhà em,

Trước nhà hoa sứ trắng

Ngõ nhỏ dài quanh co,

Gót chân mòn lối cỏ

Bao chiều qua lại qua

Xuân qua rồi Hạ về,

Chẳng bao giờ dám ghé

Trang vở gấp làm tư,

Bài thơ còn viết dở

Ngại ngần chưa  dám đưa

Đường qua ngõ nhà em

Bốn mùa hoa sứ trắng

Bài thơ xưa viết xong

Chẳng bao giờ được nhận

Nắng buổi chiều soi nghiêng

Cổng nhà em khép kín,

Hương sứ còn vương vương…

Hoàng Nghĩa Hưng._2015.

 

Tiếng hát với cung đàn.

             Anh từ từ chậm dần những nốt cuối cùng của bài hát trên cây đàn guitar để chấm dứt. Khi tiếng đàn ngân nga của anh tan biến trong không gian của phòng khách trong căn nhà nhỏ ấm cúng của anh, tôi với tay mò mẫm bấm nút STOP trên cái điện thoại di động để chấm dứt phần thâu. Chúng tôi hồi hộp cho hát lại bài hát vừa được thâu do chị hát và anh đàn, còn tôi thì làm… giám đốc vì tôi là chuyên gia luôn… xúi giục người khác. Từ cái điện thoại di động Samsung của tôi, tiếng đàn dạo đầu của anh nghe như mời gọi, rồi tiếng hát của chị cất lên, ấm cúng và ngọt ngào, quyện trong tiếng đàn của anh, lúc quấn quít trong giọt rãi nhẹ nhàng, lúc nhấn mạnh hỗ trợ khi giọng hát chị lên cao theo cung nhạc. Chúng tôi thở phào. Lần này là chắc cú vì tiếng đàn của anh sinh động, đầy hứng khởi và chị cũng đã giữ được giọng khá vững, với chỉ một sơ sót nhỏ có lẽ khi chị lạc mất lời nhạc. Cái sơ sót đó lại làm bản thâu rất thực và cho thấy những khó khăn trong công việc mà chúng tôi đang làm: cố gắng tập một bản nhạc hoàn toàn không quen thuộc với cả anh và chị. Tôi biên tập lại bài hát vừa thâu, cắt những đoạn mà chúng tôi nói chuyện lao xao, lọc tiếng ồn, rồi cuối cùng khuếch đại bài hát. Et voilà, bài hát đã được sẵn sàng để gởi đến nhóm THVT 68-75  hỏi ý kiến các bạn về đề nghị tham gia chương trình văn nghệ trong đại hội CHS THVT nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường 1954-2014.

Anh là một thành viên của nhóm THVT 68-75, còn chị là dâu hiền của nhóm. Anh là một tay guitar nghiệp dư xuất sắc với nhiều kỹ thuật đệm khác nhau, và cũng là một giọng bè có hạng, còn chị là một ca sĩ… karaoke có chất giọng ấm với kỹ thuật luyến láy rất… nhà nghề, và rất thích hát hò. Thời trung học của anh trải qua trong một ngôi trường trung học lớn nhất và có một truyền thống lâu dài nhất ở một thị xã nhỏ, trường Trung Học Vũng Tàu, chị trải qua ba năm sau cùng  thời trung học của chị trong một trường trung học mà trước biến cố 1975 được coi như là một trong hai trường trung học nữ tiêu biểu cho các nữ sinh Sài Gòn, trường Trưng Vương. Anh người Nam, còn chị người Bắc. Anh là cung đàn, còn chị là tiếng hát. Anh là Chiêu Giang, chị là Đoan Trang. Anh và chị có những tương phản nhưng lại bổ túc cho nhau. Và chỉ có định mệnh mới đem được hai người đến với nhau để trở thành tiếng hát với cung đàn trong nhóm THVT 68-75 chúng tôi.

Đoạn đời của anh sau năm 1975 rất long đong. Sau biến cố tháng Tư năm này, anh rời trường và không bao giờ trở lại để hoàn tất chương trình lớp 12. Anh làm đủ thứ công việc và học đủ thứ nghề để phụ giúp gia đình, vì lúc nầy gia đình anh bổng dưng phải đối diện với thực tại là ba của anh và người anh lớn sẽ  không có mặt trong mâm cơm gia đình trong bao nhiêu năm nữa trong một tương lai không biết trước được, bởi hai người  đang được tập trung để học tập cải tạo. Đầu mùa gió nồm năm 1981, anh đến Malaysia  và được nước Úc chấp nhận đơn xin định cư chỉ sau vài tuần khi anh  đến đảo Bidong. Ngay khi mùa giáng sinh năm đó kết thúc, anh xin vào làm công nhân vệ sinh trong một hãng và sau đó ít lâu được “thăng chức” làm công nhân dây chuyền cho hãng để có thể gởi tiền về giúp gia đình, anh em ở Việt Nam.

Với quyết tâm vươn lên làm chủ vận mệnh mình, anh dành dụm mua một xe tải và hợp đồng chuyên chở hàng hóa cho một hãng vận tải trong khi chưa rành rọt gì về đường xá Melbourne. Tài xế xe tải là một công việc nặng nề và ít hoạt động vì cứ phải lên xuống hàng hay phải ngồi lái, nhưng anh chấp nhận, rồi dần dần quen việc và công việc ngày càng vững vàng. Khi anh tìm được việc trong ngành bưu điện, anh bỏ công việc tài xế xe tải. Anh ổn định một thời gian trong công việc mới, nhưng có cái gì đó trong anh không ổn định, cứ thôi thúc anh. Anh nghỉ bưu điện ghi danh học đại học với ý định hoàn tất chương trình cử nhân văn khoa về thông phiên dịch. Anh cũng đồng thời dự cuộc thi tuyển của cảnh sát tiểu bang khi bang Victoria nới rộng tuổi cho những người muốn gia nhập lực lượng cảnh sát.

Khi anh trúng tuyển vào ngành cảnh sát, anh bỏ dở chương trình đại học để tham gia lực lượng Cảnh Sát Victoria. Thời gian huấn luyện thật là gian nan khổ sở. Nay anh bắt đầu chớm tuổi trung niên, và những năm khổ cực thời trẻ khiến thể lực của anh, tuy không tệ lắm so với những người cùng lứa tuổi, nhưng hoàn toàn là một thách đố cho anh để vượt qua tiêu chuẩn thể lực khi anh dự khóa huấn luyện. Cuối cùng, anh cũng vượt qua thử thách và tốt nghiệp. Nay anh đã tìm lại được chính mình, một con người năng nổ, gan dạ, phán đoán chính xác, quyết định hợp lý và đúng lúc. Anh thăng tiến nhanh trong ngành và là người Úc gốc Việt Nam đầu tiên trở thành thám tử (detective) trong lực lượng cảnh sát tiểu bang Victoria nước Úc. Anh đã được tưởng thưởng và tặng thưởng huy chương với những thành tích trong công tác của mình. Anh đã chuyển hóa được dòng định mệnh của anh.

Cuộc đời của chị thì ổn định và phẳng lặng hơn. Chị lớn lên ở khu xóm nhỏ ở chợ Thị Nghè, bên này của con kinh còn bên kia con kinh là vườn Bách thảo Sài Gòn, với những con đường ngoằn ngoèo đông đúc xe cộ tấp nập ồn ào. Chị học phần đầu chương trình trung học của mình tại trường cấp 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm và phần còn lại tại trường Trưng Vương.

Chị đã mê văn nghệ và thích ca hát ngay lúc còn là cô nữ sinh lớp Sáu. Sau buổi chào cờ một ngày thứ Hai nào đó, chị đã xung phong thay mặt lớp lên giúp vui văn nghệ. Chị chọn bài hát Mai Đây Hòa Bình của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng. Có lẽ cô học trò nhỏ đó đã hát với tất cả niềm say mê và bầu nhiệt huyết cho nên cả trường đã hưởng ứng hát theo cô khi giọng cô ngân nga, “Hòa bình ơi! Việt Nam ơi….”. Thế là chị được các bạn bầu làm trưởng ban văn nghệ và bài hát Mai Đây Hòa Bình do chị hát được trường chọn để tham gia chương trình văn nghệ cấp quận. Đến bây giờ, mỗi khi chị về Việt Nam thăm gia đình và gặp lại các bạn cũ, họ đều yêu cầu chị hát lại bài hát này để được nhớ về một thuở sinh hoạt học trò của cả bọn. Chị đã không có cơ hội tha thướt trong tà áo dài trắng bước đi trên con đường đầy cây cao bóng mát Nguyễn Bỉnh Khiêm để đến trường hằng ngày vì trong thời trung học của chị, áo dài bị coi là y phục của giới trưởng giả tư sản nên không được cho phép mặc trong công sở cũng như trong trường học!

Anh và chị gặp nhau năm 1991 và quyết định cùng nhau xây dựng một mái ấm gia đình. Chị học một khóa về giữ trẻ và mở dịch vụ giữ trẻ tại nhà để kiếm thêm thu nhập. Mới ngày nào mà nay đã hai mươi mấy năm. Tưởng chừng như mới hôm qua. Không biết bao nhiêu những cô bé con, chú bé con đã qua bàn tay chăm sóc dịu dàng của chị. Những cô bé, chú bé con ấy chắc nay đã lớn lắm rồi, như Khoa, con trai lớn của anh và chị, hiện nay đang ráo riết học chờ kỳ thi đại học sắp tới. Cô em Vy của Khoa cũng theo gót chân anh năm sau đó thôi.

Chị tiếc rẻ, chị không thể đi dự đại hội cựu học sinh của trường trung học của anh ở Nam Cali năm nay vì Khoa phải thi đại học. Các bạn trong nhóm niên khóa 68-75 email qua lại bàn cãi góp ý về chương trình tham gia văn nghệ sôi nổi quá làm chị cũng háo hức. Chị mỉm cười khi nghĩ tới nhóm bạn cùng trường của anh. Họ vẫn còn sôi nổi, râm ran, om xòm và huyên náo như thể họ vẫn còn là những cá nhân còn đang mài đũng quần trên ghế nhà trường năm xưa. Thế đấy, các nữ sinh, nam sinh nội ngoại, họ tự gọi. Thôi thì chị sẽ cố gắng đóng góp cho nhóm bạn của anh, nhóm THVT 68-75, bằng tiếng hát của chị để giúp nhóm tập dợt cho màn trình diễn của họ trong đại hội khi chị không thể có mặt để góp vui cùng họ. Thôi thì chị sẽ mặc chiếc áo dài trắng đi đến trường trong lời ca để bù đắp lại nổi mất mát về một tà áo dài trắng mà chị đã không có cơ hội được khoác vào người trong thời nữ sinh của chị. Rồi chị cất cao lời hát… và tiếng đàn của anh quấn quít ôm lấy tiếng hát của chị. Rồi tôi như thấy bóng dáng gầy gầy của chị, tay ôm cặp, đang bước đi trên con đường rợp bóng Nguyễn Bỉnh Khiêm, hai tà áo dài trắng bồng bềnh quấn quít bước chân, trong bài hát về một thời áo trắng.

Phải là định mệnh mới đem chị đến với anh, vượt qua đại dương xa xôi. Phải là định mệnh mới có thể đem tiếng hát đến với cung đàn.

Người Kể Chuyện (THVT 68-75).