Bạn tôi Mười hai bê.

Vũ thị Quyên.

Niên học bảy bốn bảy lăm,

Mười hai bê lớp chừng năm mươi người.

Trưởng lớp Thành Tựu hay cười,

Dáng người đĩnh đạc tốt tươi kém gì.

Lớp có chín bạn nữ nhi,

Thướt tha thục nữ Kim Chi, Kim Hoàng,

Nhu mì là bạn Thanh Lan,

Minh Châu nhanh nhẹn ngang tàng mà duyên,

Dịu dàng uyển chuyển Diệu Liên,

Vũ Quyên lóc chóc nhưng siêng học bài,

Xinh tươi như nụ hoa nhài,

Trần Dung nhị đẳng tóc dài thanh tao,

Nghiêm trang chị cả Kim Thao,

Bạn Thu Thủy có dạt dào tình cha.

Bên nam bạn Lý Xuân Hòa,

Hữu Liêm, Phương Hải cả ba nghịch ngầm,

Huỳnh Luận đạo mạo trầm ngâm,

Thanh Quang lí lắc mà tâm nhiệt thành,

Bê rê mũ trắng Quang Sanh,

Kim Bang chín chắn, Huy Thanh hiền lành,

Giải toán vừa đúng vừa nhanh,

Nghĩa Hưng, Đức Hạnh và anh Hữu Hùng,

Học sinh xuất sắc Thanh Tùng,

Thông minh là bạn Dân Hùng, Phùng Sơn,

Điền kinh gạo cội Đăng Sơn,

Huy Dũng, Mỹ Thắng tài đờn hát ca,

Ngoài ra còn rất mặn mà,

Công tác xã hội chan hòa niềm vui,

Ngọc Quý nét mặt tươi cười,

Quang Sang điềm đạm và luôn chuyên cần,

Tốt bụng là bạn Đình Tân,

Trầm tư Trọng Nghĩa, triết nhân Huỳnh Vàng,

Pháp văn nhóm bạn kết đoàn,

Chung Hoa cùng với Kim Hoàng, Ngọc Trân,

Phi Hùng trong nhóm rất thân,

Khi chơi lúc học quây quần cùng chung,

Đức Khánh phong thái ung dung,

Bạn Cơ, bạn Thái chẳng hùng hổ ai,

Tiến Dũng đáng mặt anh tài.

Anh văn luyện giỏi mấy ai sánh tày,

Dòng đời cứ mãi vần xoay,

Bạn tôi như cánh chim bay khắp miền.

Dù không còn tuổi hoa niên,

Mười hai bê vẫn một niềm trong tôi.

Tàu Titanic những điều chưa biết.

Sưu tầm.

Giấu nửa đời người thuyền phó tàu Titanic cuối cùng đã tiết lộ những bí mật chưa ai biết.
Năm 1912, cả thế giới chấn động trước tin tàu Titanic gặp nạn. Suốt một thời gian dài sau đó, giai thoại về con tàu cùng những vị khách xấu số trên đó đã trở thành cảm hứng của không ít tác phẩm văn học và điện ảnh thời bấy giờ.
Vậy nhưng, những tác phẩm nghệ thuật ấy mới chỉ được xây dựng thông qua cảm quan cá nhân của tác giả.
Ít ai biết rằng, những câu chuyện thực sự phía sau con tàu mang tên Titanic còn bi thương và cảm động hơn nhiều so với các thước phim trên màn ảnh nhỏ.
Từ bỏ cơ hội được sống để cùng nhau bước vào cõi vĩnh hằng
Sau đêm định mệnh ngày 14, rạng sáng ngày 15/4/1912, trong số các hành khách đi trên con tàu Titanic, con số sống sót ghi nhận được chỉ có 710 người, còn 1514 hành khách xấu số khác hoặc là đã mất tích, hoặc đã xác nhận thiệt mạng.
Khi ấy, phó thuyền trưởng Charles Lightoller (38 tuổi) là người cuối cùng lên thuyền cứu sinh, cũng là người có chức vụ cao nhất trong đội ngũ thuyền viên làm việc trên tàu Titanic may mắn còn sống sót.

Sau nửa đời chôn giấu những ám ảnh về đêm định mệnh ấy, trong những năm cuối cùng, Charles đã viết 17 trang hồi ức thuật lại chi tiết nhiều mẩu chuyện xảy ra trong đêm gặp nạn của con tàu Titanic.
“Đối mặt với sự thật là con tàu sắp chìm, thuyền trưởng đã phát thông điệp ưu tiên cho phụ nữ cùng trẻ em xuống thuyền cứu sinh. Trước lời đề nghị ấy, không ít hành khách chẳng mảy may lay động, vì họ không muốn chia cắt cùng thân nhân của mình.
Khi đó, tôi ra sức hét lớn: ‘Phụ nữ và trẻ em hãy tới đây!’ Nhưng tôi thấy nhiều người không tình nguyện từ bỏ người thân để nhìn phụ nữ và trẻ em bước lên thuyền cứu sinh…”
Nhắc về những ký ức trong đêm hôm đó, Charles vẫn không khỏi cảm thán:
“Chỉ cần tôi còn sống, tôi vĩnh viễn sẽ không bao giờ quên được cái đêm ấy…”
Cũng theo hồi ức của Charles, khi chiếc thuyền cứu hộ thứ nhất được hạ xuống, ông có hỏi một phụ nữ đang đứng trên boong tàu có tên là Straw rằng:
“Quý bà có muốn cùng tôi lên chiếc xuồng cứu nạn kia hay không?” Điều khiến Charles không ngờ là bà Straw cương quyết lắc đầu và đáp: “Không, tôi nghĩ rằng ở trên tàu vẫn tốt hơn”.
Bấy giờ, chồng của Straw hỏi: “Vì sao em không muốn lên thuyền cứu nạn?” Straw mỉm cười: “Không, em chỉ muốn ở bên anh”.
Từ đó về sau, Charles vĩnh viễn không còn được nhìn thấy đôi vợ chồng ấy, nhưng câu chuyện về tình yêu của họ chưa bao giờ phai nhạt trong ký ức Phó thuyền trưởng…

Những câu chuyện cảm động về tình yêu trên chuyến tàu định mệnh năm nào đã trở thành nguồn cảm hứng viết nên nhiều tác phẩm nghệ thuật.(Ảnh trong phim Titanic).
Tấm lòng cao thượng của tỷ phú giàu nhất thế giới
Trong những thập kỷ đầu năm 1900, Astor đệ tứ (John Jacob Astor IV) đã liên tục giữ danh hiệu người giàu nhất thế giới.
Và khi chuyến hành trình của Titanic được bắt đầu, ông đã không ngần ngại chi một khoản tiền khổng lồ để đưa vợ mình đi nghỉ trên con tàu sang trọng ấy mà không biết rằng bi kịch đang chờ họ ngay trước mắt…
Trong đêm Titanic gặp nạn, ở vào khoảnh khắc những chiếc thuyền cứu sinh được thả xuống, Astor đã đưa người vợ mang thai 5 tháng của mình lên thuyền.
Sau đó, ông đứng ở boong tàu cùng chú chó trung thành bên cạnh, châm một điếu xì gà, nhìn chiếc thuyền cứu hộ cuối cùng đang dần khuất xa và nói lớn: “Anh yêu em!”
Với quyền lực và số tài sản của mình, Astor từng được Phó thuyền trưởng Charles đặc biệt dành một vị trí trên chiếc thuyền cứu sinh đầu tiên. Nhưng ông đã cự tuyết một cách cương quyết và nói: “Đây chính là giải pháp mà tôi thấy hợp lý nhất”.
Sau đó, người đàn ông giàu nhất thế giới ấy đã đem tặng vị trí của mình cho một bé gái người Ireland.
Vài ngày sau tai nạn, vào một buổi sáng sớm ở Bắc Đại Tây Dương, thuyền viên đã phát hiện thi thể của Astor đệ tứ. Khi đó, phần đầu của ông thậm chí đã biến dạng vì bị ống khói của con thuyền đè vào…
Vì người thân mà kiên cường chiến đấu, đó chính là lựa chọn duy nhất của một người đàn ông vĩ đại.
Tài sản của Astor thậm chí có thể mua được tới 10 chiếc tàu Titanic, nhưng trong giây phút sinh tử kia, ông lại không hề trốn chạy mà tìm cách để bảo vệ phái yếu và gia đình của mình cũng như dành cơ hội cho người khác. (Ảnh: Nguồn Internet).
Mong muốn “ra đi như một quý ông” của trùm ngân hàng nổi danh
Cũng trên chuyến tàu định mệnh ấy, ông trùm ngân hàng nức tiếng một thời là Guggenheim ở vào thời điểm nguy nan vẫn vận trên mình bộ lễ phục đắt tiền và thản nhiên nói: “Ta phải chết sao cho đáng mặt một quý ông”.
Trong bức thư viết vội gửi cho vợ mình trước khi tàu chìm, Guggenheim bày tỏ:
“Anh sẽ không chiếm bất kỳ một chỗ nào của phụ nữ và trẻ em trên thuyền cứu sinh mà sẽ đứng trên boong tàu. Anh sẽ không chết như một con vật, mà sẽ ra đi như một quý ông chân chính”.
Tình vợ chồng “đến lúc chết không rời xa” của người sáng lập bách hóa Macy
Cũng trong đêm định mệnh ấy, người giàu thứ hai thế giới và cũng là nhà sáng lập thương hiệu bách hóa Macy nổi tiếng, ông Isidor Straus đã hết lòng khuyên vợ mình bước lên chiếc thuyền cứu sinh số 8.
Nhưng mọi nỗ lực của ông đều không thành, bởi phu nhân Ida Straus đã dứt khoát cự tuyệt: “Bao nhiêu năm qua anh đi đâu em luôn theo đó, em sẽ đi cùng anh đến bất kỳ nơi đâu anh muốn”.
Người phụ trách chiếc thuyền cứu sinh ấy cũng đã dành một vị trí tốt cho quý ông đại gia này và ra sức thuyết phục: “Tôi tin rằng sẽ không có ai phản đối một người lớn tuổi như ngài xuống thuyền cứu hộ”.
Nhưng Straus chỉ nói: “Tôi tuyệt đối sẽ không bước xuống thuyền cứu sinh như những người đàn ông khác”.
Và sau nhiều lần thuyết phục vợ không thành, người đàn ông 67 tuổi ấy đã nắm tay phu nhân 63 tuổi của mình, tập tễnh đi tới boong tàu và ngồi xuống ghế, bình thản chờ đợi thời khắc sinh tử.
Ngày nay, tại Bronx thuộc New York (Mỹ), một đài tưởng niệm những cặp vợ chồng qua đời cùng nhau trong thảm họa Titanic đã được dựng nên và khắc trên mình dòng chữ: “Nước biển dù nhiều tới đâu cũng không thể nhấn chìm được tình yêu”.
Bức ảnh chụp cuối cùng của vợ chồng Straus trước tai nạn Titanic. (Ảnh: Nguồn Internet).
Và còn nhiều câu chuyện cảm động khác…
Chuyến tàu này còn chở theo đôi vợ chồng mới cưới là Astrid Pasi và Reta Pasi trên hành trình đi nghỉ tuần trăng mật. Khi con tàu sắp chìm, cô Reta Pasi một mực ôm chặt chồng mới cưới và từ bỏ cơ hội xuống thuyền cứu sinh một mình.
Chồng của Reta đã bất đắc dĩ phải đánh bất tỉnh vợ rồi lặng lẽ đưa cô xuống thuyền. Sau khi tỉnh lại, Reta mới bàng hoàng phát hiện sự thật.
Từ đó về sau, cô không hề tái hôn với người đàn ông khác và dành nửa đời còn lại để tưởng nhớ người chồng của mình.
Trên con tàu mang tên Titanic năm ấy, một doanh nhân người Pháp là Navratil đã dùng những nỗ lực cuối cùng để đưa 2 người con của mình lên thuyền cứu sinh và nhờ các phụ nữ trên đó chăm sóc, còn bản thân thì ngồi lại nơi boong tàu.
Sau khi may mắn thoát nạn, hai người con của Navratil đã được báo chí khắp thế giới đăng ảnh và nhanh chóng gặp lại mẹ của mình. Nhưng nỗi đau mất cha và những ám ảnh về đêm định mệnh ấy mãi mãi khó có thể nguôi ngoai trong họ.
“Cô nhi Titanic” là bức ảnh chụp lại chân dung của Edmon cùng Michel, hai con của doanh nhân Pháp quốc may mắn sống sót sau tai nạn. (Nguồn: Internet).
Trong cuộc phỏng vấn những người sống sót sau tai nạn tại Thụy Sĩ, một quý bà tên Smith đã không kìm nén được xúc động khi chia sẻ về sự hy sinh của một người mẹ vô danh.
“Tôi bế hai con của mình và đưa chúng lên thuyền cứu sinh. Nhưng vì thuyền đã quá đông, tôi không thể lên được nữa. Khi ấy, một người phụ nữ đã đứng dậy nhường chỗ và giúp tôi xuống thuyền rồi nói lớn: ‘Xuống đi, bọn trẻ không thể không có mẹ…”.
Người phụ nữ vĩ đại ấy chẳng hề để lại tên tuổi. Để ghi nhớ sự hi sinh cao thượng ấy, một tấm bia tưởng niệm người mẹ vô danh đã được dựng nên.
Chuyến tàu Titanic năm nào còn chở theo nhiều nạn nhân khác trong chuyến hành trình định mệnh của mình như tỷ phú Acid, nhà báo William.T Stead, thiếu tá pháo binh, kỹ sư nổi tiếng…
Những con người ấy đề đã từ bỏ việc xuống thuyền cứu sinh của mình để dành cơ hội sống cho nhiều phụ nữ nông thôn nghèo và trẻ em.
Hơn 50 nhân viên phục vụ trên con tàu Titanic đều đã tử nạn, duy chỉ có Phó thuyền trưởng Charles may mắn còn sống sót.
Trong hồi ức của Charles, vào 2h sáng ngày xảy ra tai nạn, thuyền trưởng John Phillip nhận được điện báo thúc giục ông rời tàu và chạy trốn.
Nhưng thay vì làm như vậy, vị thuyền trưởng ấy vẫn bình tĩnh ngồi trong khoảng điều khiển, không ngừng nhấn nút điện báo phát đi thông điệp “SOS” và giữ nguyên tư thế ấy cho đến phút cuối cùng.
Chân dung thuyền trưởng Edward John Smith – người giữ vị trí thuyền trưởng tàu Titanic. (Ảnh: Nguồn Internet).
Vào năm 1912, trước tượng đài tưởng niệm các nạn nhân trên tàu Titanic, người đại diện công ty vận tải biển White Star Line đã phát biểu trước báo chí:
“Không có bất kỳ luật lệ nào ép buộc những người đàn ông phải phải dành ra những hy sinh lớn như vậy. Hành động của họ xuất phát từ sự kiên định mà phái mạnh dành để bảo vệ phái yếu. Đó chính là lựa chọn của họ”.
Trong tác phẩm mang tên “Unsinkable”, tác giả Danielle Allan Butler cũng cảm thán: “Trách nhiệm quan trọng hơn so với mọi thứ khác. Đó chính là điều mà họ được thụ hưởng bởi nền giáo dục ngay từ khi còn nhỏ”.
Đứng trước ranh giới giữa sự sống và cái chết, tất cả mọi thứ giữa chúng ta đều trở nên ngang hàng. Ở vào thời khắc ấy, gia tài bạc triệu hay quyền lực tối cao cũng chẳng còn mang ý nghĩa vốn có.
Nếu một tỷ phú lại tình nguyện buông tay vợ mình, liều mạng chen chúc lên chiếc thuyền cứu sinh đầy phụ nữ và trẻ em chỉ để ôm tiền của sống nốt nửa đời còn lại, liệu cuộc sống ấy có thực sự còn ý nghĩa?
Có lẽ, nếu sự thực diễn ra như vậy, chúng ta đã chẳng có nhiều câu chuyện cảm động về con tàu Titanic tới thế.
Khi đuôi con tàu bắt đầu chìm xuống nước, ở vào giây phút sinh ly tử biệt, câu nói người ta hét lên trong thảng thốt không phải là tiếng kêu cứu mà là thông điệp ngắn ngủi nhưng ý nghĩa: “I love you”.
Hãy tin rằng, cho dù đứng trước hiểm nguy hay bất kỳ khó khăn gì trên cuộc đời này, những người yêu nhau chân chính sẽ không bao giờ buông tay…

Huyền thoại dòng nước mắt.

Dẫn nhập:

Theo niềm tin của người Công giáo ( Sáng thế ký) thì trước khi tác tạo con người Thiên Chúa đã tạo dựng Thiên thần đẹp đẽ. Nhưng có một số kiêu ngạo nên bị trừng phạt trở thành quỉ chuyên đi cám dỗ con người vì ganh tỵ. Thế rồi con người cũng sa ngã nhưng biết ăn năn nên được tha thứ và được cứu chuộc,nhưng phải chịu nhiều đau khổ rồi cuối cũng là phải chết. Kiếp sống sau mới là vĩnh viễn và hạnh phúc hay đau khổ tùy thuộc vào những việc làm của kiếp này.

Ngày xửa, ngày xưa  khi trần gian còn nguyên sơ, buổi binh minh thơm ngát  bụi hồng hoang; ráng chiều chưa vương làn khói xám lửa rơm buổi cơm chiều của con cháu loài người.Adam từng bước chân trần lên ngôi Hoàng đế địa cầu trên lớp đất mềm chưa vướng chông gai và cỏ non mịm hiền hòa cúi mình đón bước chân chàng. Ngai vàng chàng ngự là những phiến đá được thiên nhiên mài dũa qua bao tỷ năm. Áo choàng của chàng được dệt bằng những sợi tơ hiền hòa của tiết mùa và Vương miện trên đầu chàng là hào quang vinh dự “thống trị muôn loài”.

Trần gian tuyệt mỹ với muông thú, cá chim. Cỏ cây thơ mộng bên sông suối mơ màng. Biển mênh mông, núi non hùng vĩ. Adam ngây ngât trong hạnh phúc tưởng chừng bất tận. Nhưng bỗng một hôm chàng cảm thấy một nỗi cô đơn nhen nhúm trong hồn. Chàng hoang mang hỏi Chúa:

_ Phải chăng công trình tạo dựng của Ngài chưa hoàn tất, dường như còn thiếu một điều gì đó phải không?

Chúa trả lời :

_ Con cứ an tâm, chuyện đâu còn có đó, hãy cứ lo tận hưởng những gì đang có đi!

Thế rồi chàng yên tâm lững thững đi ra bờ hồ ngồi ngắm cảnh. Cúi xuống mặt hồ chàng bỗng bắt gặp một con người không biết từ đâu đến.

_ A!Thế là từ nay ta đã có bạn.

Chàng sung sướng! Từ đó, ngày ngày ra bờ hồ trò chuyện với nhân vật mơ màng mà chàng chưa hề biết cội nguồn của hắn. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn chàng lại vô cùng chán nản vì cái gã “gà mờ” kia chẳng biết được điều gì hơn chàng. Adam kiếm chỗ ngủ liên tiếp nhiều ngày,bỏ mặc người bạn bíẩn mới quen trong hồ nước.

_Ráng chịu đi em, ai bảo mày ngu quá!

Thức dậy sau giấc ngủ dài, Adam được Chúa dẫn đến trao cho chàng một tác phẩm mới thật tuyệt  mỹ từ vóc dáng đến ánh mắt, nụ cười.

_ Đây là Eva, từ nay con sẽ không còn cô đơn nữa. Ta hy vọng rằng con sẽ không hối hận khi có nàng.

Adam  cám ơn rối rít, chỉ sau vài phút ngỡ ngàng chàng đưa Eva đi giới thiệu mọi ngõ ngách vườn Địa đàng với niềm hạnh phúc ngập hồn. Tay trong tay, chàng khám phá thêm một kho tàng “ cảm xúc” vô cùng quí giá vượt trên tất cả mọi “tài sản” trong vườn địa đàng này. Sau một thời gian khắn khít, đắm chìm trong hạnh phúc tuyệt vời Adam chợt nhớ tới người bạn trong hồ nước, chàng đến thăm tiện thể giới thiệu cho hắn người bạn đờicủa mình.

Nghiêng mình cúi xuống mặt hồ chàng thấy “cái bản mặt” của nó cũng như ngày nào. Eva khép nép sau lưng rồi nhẹ nhàng tựa cằm lên vai chàng nhìn xuống. Adam chưa kịp chào hỏi đã đổ quạu:

_Tại sao mà từ khi quen biết mi ta không biết thêm điều gì mới lạ cả, mấy hôm trước thì cứ ta nói câu gì thì  mi nói câu đó, ta hỏi mi điều gì thì mi lại hỏi lại điều đó. Đến hôm nay ta có “cái gì” mi cũng có “cái đó” thế là làm sao?

Eva tủm tỉm cười:

_Đó chỉ là cái bóng của chàng thôi, nhìn kỹ mà coi có phải người  đàn bà bên cạnh cái bóng đó giống hệt em không?

_Chúa ơi bây giờ con mới hiểu ra, nàng đã đẹp lại còn thông minh nữa, thế mà hổm rầy con cứ tưởng chàng trai đó là con Long vương hay Hà bá chứ con đâu có dè đó chính là con,“cũng khá đẹp trai”ấy chứ! Lạy Chúa, sao mà Ngài quá tài ba!

Hạnh phúc tràn đầy phủ quanh đời sống bình an vì có thêm người để suy xét, phân tích mọi tình huống trong cuộc sống hàng ngày. Adam trở nên lười suy nghĩ từ khi được Eva chỉ cho chàng thấy được chính mình.

Rồi một ngày lịch sử sang trang khi Adam nuốt phần còn lại của trái Cấm vườn Địa đàng. Adam và Eva đi tìm nơi ẩn nấp, họ trốn chạy Thiên Chúa và ngay cả chính mình.

_Adam.

_ Dạ con nghe, nhưng bữa nay con bận rồi!

_ Ta đã biết rồi con ạ! Từ đây về sau con sẽ còn “bận” dài dài không còn “tồng ngồng” thong dong, thoải mái như trước đây nữa đâu. Thôi ráng mà moi óc vẽ kiểu thời trang cho cái “bận “ của con đi.

Adam lúng túng muốn trì hoãn thời gian ra trình diện để suy tính cho “một cái gì đó”đang biến đổi trong chàng. Nhưng không còn cách nào thoát thân, chàng quì xuống gào lên thảm thiết.

_ Lạy Chúa, Chúa biết cả rồi! Hỡi đám mày râu hậu duệ của ta ơi ! Chúng bay đừng có thằng nào dại dột nghe lời đàn bà như Adam này.

Chúa hỏi:

_Eva, sao vậy con?

Eva thút thít:

_Chúa ơi, xin gọi con rắn mà hỏi.

Chúa gọi Luxiphe:

_Ngươi đã làm gì? Có phải ngươi muốn họ cùng chung số phận của ngươi cho có bạn nên đã cám dỗ họ phải không?

Quỉ vênh váo:

_Cám dỗ là nghề của tôi, chúng nó nghe theo thì phải ráng chịu.

Lúc này con rắn đã hiện nguyên hình quỉ dữ với mình mẩy nhớp nhúa, có nanh, có sừng lại có thêm cái đuôi dài lê thê.

Eva rùng mình khiếp sợ, nức nở:

_Lúc đó nếu con thấy được hình hài kỳ quái,  ghê tởm của nó thì con đã không nghe nó rồi. Nó đã chỉ là con rắn với lời lẽ ngon ngọt, dịu dàng.

Chúa ôn tồn:

_Thật ra lời khuyến dụ của nó đã vô cùng phi lý rồi, nếu ăn trái cấm vào mà có lợi thì nó đã làm rồi, nó không chừa cho con đâu. Thường ngày Adam đã từng thán phục khả năng nhận thức tinh tế của con, hôm nay con để nó đâu rồi? Còn Adam, có thêm người để có thêm suy tính mà sao từ khi có Eva hình như con bỏ cái đầu thông minh trong “hồ nước “rồi phải không? Nên bây giờ chúng con chỉ còn có nước rủ nhau “đi chết” cho rồi.

_Lạy Chúa!chúng con đã mắc tội xin ngài thứ tha!

Adam gục đầu nức nở, mắt chàng sáng lên vì dòng lệ đã giúp chàng rửa sạch bụi mờ của tham vọng u mê. Chàng đau đớn nhận biết rằng loài  người còn có khả năng “khóc” và đây cũng là lần đầu tiên chàng phải dùng đến. Tiếng Khóc “Đàn ông “ Của Adam làm Thiên Chúa mủi lòng Ngài liền phán bảo hai người :

_Ta sẽ ban cho các con một đấng cứu thế sau này.

Liền ngay lúc ấy, Luxiphe nhảy vào khiếu nại :

_Ngài chẳng công bằng chút nào cả, xưa kia khi chúng tôi phạm tội ngài nỡ trừng phạt chúng tôi xấu xí như vầy, còn chúng nó thì ngài lại cứu vớt.

_Ngươi có bao giờ ăn năn, khóc lóc đâu mà bảo ta cứu vớt.

_Ngài đâu có tạo dựng chúng tôi có thể chất như chúng nó đâu mà biểu khóc lóc với ăn năn.

Nói xong nó chỉ vào mặt Adam và Eva mà dõng dạc nguyền rủa:

_Ta sẽ làm cho loài “có nước mắt “ chúng bay phải khóc thành sông, những đôi mắt long lanh kia phải đổ lệ trăm dòng.

Lời nguyền kia xoáy nát tâm can, hai người thất thểu nhìn lại giang sơn mình. Không có gì thay đổi nhưng sao lòng buồn rười rượi, lê bước chân trên nền đất dường như nhiều đá sỏi, chông gai. Ôi! Không phải thế đâu, thường ngày họ vẫn dẫm phải gai nhưng họ ngồi xuống bên nhau, dịu dàng, tình tứ nhổ những mảnh đau đớn cho nhau trong tình yêu như nắng ấm chan hòa. Bây giờ tình đã héo hon! Rồi đổ lỗi cho nhau, đổ qua đổ lại nhiều quá thành ra “đổ thừa “, nước mắt  lại rơi!

Bây giờ cả hai đều không còn dám ngắm nhìn hình ảnh mình trong hồ nước nữa, họ muốn hồ nước kia lưu giữ mãi những gì của hôm qua. Cuộc sống trước nay có đầy khó khăn, thử thách họ đã vượt qua một cách thú vị, nhưng hôm nay sao đắng cay ngập hồn. Adam trở nên tư lự và có lẽ bắt đầu từ đó chàng mới chịu xử dụng đầu óc thông minh của mình một cách triệt để hơn. Lời Chúa hôm nào:”đừng ăn trái này kẻo phải chết” và chàng đã được nhìn thấy sự chết xảy ra trên sinh vật nhưng hôm nay cảm giác sợ hãi mới đến với chàng. Một cành cây bị gió đánh gãy, một cây cổ thụ già chết đứng bên sông….chúng từ từ vàng úa, héo khô rồi mục nát. Cái chết trên cây cỏ đã tiêu điều nhưng chưa khủng khiếp, thê lương như trên các loài cầm thú. Con cọp  hiên ngang giữa núi rừng ngày nào khiến bao nhiêu loài phải khiếp vía, kinh hoàng thế mà một ngày cuối đông năm trước đã phải nằm yên cho sâu bọ rúc rỉa, oai linh chỉ còn cô đọng khối tanh hôi.

Thân phận của mọi sinh vật tồn tại và mất đi để quân bình cho trái đất này? thế mà từ nay Adam và  Eva rồi con cháu sẽ bị giáng xuống như chúng: chết queo khi nguồn sinh lực bị rã rời từng đoạn nơi thể xác. Ngày đó đơn độc và buồn thảm vô cùng, con người sẽ nằm yên  mặc cho đôi mắt linh hồn kề cận bên đôi mắt thể xác mà réo gọi, van xin sự hé mở chỉ một chút thôi, cho nó được trở về làm xong thủ tục ăn năn cuối đời. Mặc bao tiếng khóc, tiếng gào, bao dòng lệ nóng đổ ra cũng không làm ấm lại trái tim băng giá đã từ chối đập đều nhịp yêu thương. Con người là một tạo vật kỳ diệu từ hư vô mà đến nhưng lại không có đường trở về hư vô nên chết rồi  vẫn còn phải “lang thang”.

Dòng nước mắt chảy vào trần gian từ ngày ấy đến nay vẫn còn lênh láng, phải chăng “lời nguyền “ kia quá cay nghiệt nên vẫn còn công hiệu cho đện tận ngày nay.

  Cung Thương

Tháng 1 năm 1998

Thăm mộ cụ ALEXANDRE DE RHODES.

Sưu tầm.

Xin cám ơn người, một vị đại ân nhân của những người con nước Việt. Xin tri ân người với lòng kính yêu sâu sắc người tạo ra chữ Quốc Ngữ Việt Nam:  ALEXANDRE DE RHODES

Câu chuyện về người con đất Việt tìm thăm lại mộ ngài Alexandre de Rhodes ở miền đất xa xôi, làm cho người đọc cảm thấy ấm lòng.
Anh Trường là hướng dẫn viên du lịch, đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa nhưng trong lòng vẫn mong ngóng về một điều bấy lâu, đó là được tới tận nơi ngài Alexander De Rhodes an nghỉ, đặt lên mộ ngài một bó hoa và nói nên lời cảm tạ từ đáy lòng.
“Từ thuở còn sinh viên, khi được học về nguồn gốc chữ quốc ngữ mà chúng ta có được để sử dụng một cách dễ dàng và tiện lợi như ngày nay. Tôi đã thầm cảm ơn những nhà truyền giáo phương Tây, đặc biệt là Alexandre de Rhodes, người đã có đóng góp lớn lao trong việc hoàn thiện hệ thống bảng chữ cái cho người Việt Nam của chúng ta. Và may mắn thay, trong chuyến đi Iran lần này. Một cơ duyên vô cùng quý báu đã giúp tôi có cơ hội đến viếng thăm ngôi mộ, nơi yên nghỉ của ông trong một nghĩa trang nằm ở ngoại ô của thành phố Esfahan, Iran.


Vùng đất Esfahan, Iran nơi ngài Alexandre de Rhodes an nghỉ. Ảnh google map

SỰ CHỈ GIÚP CỦA NHỮNG NGƯỜI BẠN TỐT BỤNG

Từ lời gợi ý của một chị bạn, chúng tôi biết được thông tin về ngôi mộ của Alexandre de Rhodes được an táng trong một nghĩa trang công giáo của người Armenia tại Esfahan. Nhưng do thời gian lưu lại nơi đây khá ngắn, vì thế hy vọng được đến viếng thăm ngôi mộ của ông là khá mong manh cho chúng tôi.
Khi nghe chúng tôi nói về ước nguyện của mình, cô Malih- một hướng dẫn viên người Iran vô cùng thông cảm và hết sức tận tình giúp đỡ. Mặc dù với thâm niên hơn 10 năm làm nghề hướng dẫn viên, đã đưa biết bao nhiêu đoàn khách từ khắp năm châu đến thăm Esfahan, nhưng là người Hồi giáo cho nên cô chưa hề biết đến thông tin về khu nghĩa trang người công giáo Armenia nằm ở đâu. Và cô cũng không hề biết đến thông tin nào về Alexandre de Rhodes.


Người đã giúp anh Trường có được tờ giấy phép vào thăm mộ ngài Alexandre de Rhodes

Sau quá trình tìm kiếm, thông qua một người bạn gái gốc Armenia, cô Mila hỏi thăm được địa chỉ của nghĩa trang. Nhưng vấn đề là không phải ai cũng được vào thăm nghĩa trang. Mà cần phải có sự đồng ý của người quản lý ở nghĩa trang.
Một lần nữa, chúng tôi may mắn gặp được một vị quản lý ở nhà thờ Vank, ông đã nhiệt tình viết cho chúng tôi một tờ giấy phép để xuất trình cho người quản lý ở nghĩa trang.
Cầm tờ giấy trên tay, chúng tôi vội vàng đi về phía ngoại ô thành phố Esfahan. Nơi có nghĩa trang của cộng đồng người Armenia sống tại đây.
NƠI NGƯỜI NẰM XUỐNG

Trước mặt chúng tôi là một nghĩa trang rộng lớn. Những dãy mộ xếp hàng dài nối bên nhau mênh mông. Chúng tôi biết là sẽ không dễ dàng để tìm ra vị trí lăng mộ của ngài. Chúng tôi tìm gặp một cụ già quản mộ ở đây dò hỏi. Cụ nhanh chóng lên xe đưa chúng tôi đến ngôi mộ có tên Alexandre de Rhodes….


Đường vào nghĩa trang nơi ngài Alexandre de Rhodes an nghỉ

Hôm chúng tôi đến, là ngày đầu năm mới của tết cổ truyền Nowruz của người Ba Tư (Iran), một vài ngôi mộ gần đấy được đặt những chậu hoa. Còn ngôi mộ của ông không có một cành hoa nào, đó chỉ là một nấm mồ nhỏ làm bằng một tảng đá hình chữ nhật nằm khép mình khiêm tốn bên những ngôi mộ khác.


Anh Trường cùng mọi người mua hoa trước khi đến thăm mộ ngài Alexandre de Rhodes
Một niềm xúc cảm thân thương nghẹn ngào mà tôi không thể tả thành lời đang tuông chảy trong tôi. Đây là nơi an nghỉ của người đã có đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc Việt Nam. Dưới lớp đất ấy là thi hài của một người phương Tây xa lạ.
Ông đã mất từ gần 4 thế kỉ trước nhưng ông là người đã giúp cho dân tộc Việt Nam có được một bảng chữ cái với các thanh sắc uyển chuyển nhẹ nhàng, nhằm để ghi lại và diễn đạt tiếng mẹ Việt Nam.


Mộ ngài Alexandre de Rhodes

Đặt một chậu hoa tím mua được trong một hiệu bán hoa tết của người Iran lên mộ ông. Chúng tôi không ai nói lời nào. Nhưng giữa chúng tôi có một sự đồng cảm sâu sắc. Chấp tay lên ngực, tôi khẻ cúi đầu xin gửi đến người một lời tri ân sâu sắc.
Nhìn thái độ thành khẩn và tôn kính của chúng tôi dành cho người nằm dưới nấm mộ. Người quản trang hỏi cô Malih: ông ấy là ai mà chúng tôi có vẽ tôn kính thế.
Và ông đã vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng đây là người đã có công hoàn thiện bản chữ cái cũng như xuất bản những quyển tự điển Việt -Bồ- La tinh đầu tiên cho người Việt Nam từ những năm 1651.


Người con Đất Việt đặt lên mộ ngài bó hoa tươi thắm với tấm lòng thành kính

NGƯỜI QUẢN NGHĨA TRANG
Qua cuộc chuyện trò, tôi đuợc biết người quản trang có tên gọi là Rostam Gharibian, ông đã làm việc ở đây được 17 năm.
Tôi hỏi, trong 17 năm đó có bao giờ ông thấy ai là con cháu hay người thân của ngài Alexandre de Rhodes đến viếng mộ ông ấy hay không.
Thoáng chút đăm chiêu, ông trả lời rằng: vì là một thầy tu cho nên khi mất đi cũng như bao người khác Alexandre de Rhodes cũng không có vợ con. Và họ hàng thì cũng ở xa tít tận châu âu cho nên chắc cũng không ai còn nhớ.
Vì thế trong 17 năm nay ông cũng chưa hề nghe thấy một người họ hàng hay con cháu nào của ông đến thăm. Chỉ thĩnh thoảng đôi khi ông thấy có một vài người Việt Nam đến viếng mà khi đó thì ông cũng không biết họ là ai và có quan hệ như thế nào với người đã mất…


Anh Trường cùng người quản trang

THAY LỜI TRI ÂN
Theo truyền thống của những người Iran, tôi lấy một ít nước rửa lên nấm mồ của ông. Những giọt nước mát trong chảy lên bia mộ ông tựa như lời thì thầm của chúng tôi xin gửi đến người. Cả một đời ông cống hiến vì đạo. Và trong quá trình truyền giáo, với mục đích mong muốn truyền tải những thông điệp trong kinh thánh một cách dễ dàng hơn.
Ông đã không quản khó nhọc để tìm cách sáng tạo ra bảng chữ cái tiếng Việt. Và đến khi cuối đời, ngài đã lặng lẽ nằm lại nơi xứ người. Có lẽ giờ đây ông không còn một người bà con họ hàng nào nhớ đến ông để thỉnh thoảng ghé thăm chăm nom nấm mồ của ông nữa, nhưng có lẽ ông cũng ấm lòng khi biết rằng vẫn còn đó những người con nước Việt.
Vẫn còn đó hơn 90 triệu người con nước Việt trên khắp 5 châu sẽ Mãi Mãi không bao giờ quên ơn ông. Người đã có công vĩ đại trong việc chấm dứt 1000 năm tăm tối, 1000 năm khốn khó khi những người Việt phải đi mượn chữ Tàu ghi lại tiếng Việt.

Và giờ đây, hạnh phúc thay. Chúng ta đã có được bảng chữ cái của riêng mình. Một bảng chữ cái dựa trên các ký tự La Tinh nhưng vô cùng uyển chuyển và dễ học.

Đôi lời..

         Mỗi năm, dù bận rộn, dù tuổi tác đã chất chồng, dù  có biết bao buồn vui, thuận lòng hay nghịch  ý xảy ra trong đời sống… nhưng khi gió đổi mùa về, nhìn lá dường rụng nhiều hơn trên những con đường , góc phố quen thuộc. Khi lũ trò nhỏ rộn ràng không khí của ngày hội trường thì  đám..”người lớn” chúng tôi cũng bắt đầu ..dừng lại! Dừng đôi chút mọi bộn bề  để có dịp ngồi lại bên nhau bàn bạc , lo toan cho một ngày dường như đã được “ mặc định” Ngày cùng  quay quần bên nhau, bên Thầy Cô thương quí của mình. Thương sao những cánh chim từ  nơi xa xôi đã lặn lội không vì không gian hay thời gian cách trở cũng bay về xếp đôi cánh mỏi để được cười vui, hồn nhiên như một ngày nào xa xưa lắm.

       Không có gì mới mẻ hơn, cũng chỉ là như thế thôi, có ..mới chăng, có khác chăng.. có bồi hồi hơn vì Thầy Cô, bè bạn không còn đủ đầy như trước.. Biết làm sao được khi tuổi  đời Thầy và trò đều đã qua ngưỡng người xưa mong đợi… Tuổi tác và sức khỏe, điều không ai làm chủ được, vận hành được, theo ý của riêng mình. Thôi thì  như nhà Thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đã nói:

               “Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

                 Cuộc đời như nước chảy hoa trôi..”

     Ừ.. mấy khi còn được gặp nhau sao không lấy đó mà làm vui cho đời vẫn còn tươi sắc dù hoàng hôn đã cận kề…Và bạn ơi có chi quí giá hơn bởi được vui vì:

                  “ Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước

                     Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau”…

                                                  Sau ngày Họp Mặt lần thứ 25 của Nhóm CHSTHVT 68-75

  *** Xin kính gửi đến Thầy Cô và bạn bè thân thương những khoảnh khắc ngắn ngủi khó quên trong ngày Họp mặt lần thứ 25,  20.11.2016 của nhóm 68-75 qua  máy quay của Nguyễn Mỹ Thắng.

 

 

Tuổi già.

Sưu tầm.

          Người đàn ông cô đơn chết trong bệnh tật, ai cũng tưởng ông chẳng có giá trị gì đến khi tìm được một thứ…

5

          Ở rất nhiều nơi trên thế giới, khi cha mẹ đến tuổi già, con cái sẽ gửi họ vào bệnh viện hoặc trại dưỡng lão như một cách để hoàn thành trách nhiệm. Thật đáng buồn là thời gian trôi đi thì họ cũng dần bị lãng quên bởi chính những đứa con mình… Câu chuyện xúc động về người đàn ông già chết cô đơn trong viện dưỡng lão dưới đây đã làm thức tỉnh trái tim của hàng triệu người trên thế giới…

Ông Mak Filiser được đưa vào một viện dưỡng lão ở Úc khi đã ở tuổi xế chiều. Ông chẳng có gì trong tay ngoài một cơ thể gầy guộc và làn da nhăn nheo, đen sạm vì sương gió. Ông cũng không có tiền làm ‘của để dành’ lúc cuối đời và con cái ông thì quá bận rộn để thỉnh thoảng có thể ghé thăm ông.

Vợ ông đã sang thế giới bên kia từ nhiều năm trước, bỏ lại ông một mình cô đơn trên cõi đời này. Ông lặng lẽ sống những giây phút cuối đời trong bệnh viện, cùng những người già cô đơn khác và dưới sự chăm sóc của các cô y tá. Ông thường ngồi một mình, lặng nhìn khung cảnh bên ngoài qua song cửa sổ và nhớ về những điều đã qua…

Thời gian cứ thế trôi qua cho đến giây phút ông trút hơi thở cuối cùng… Mọi người vẫn nghĩ ông chẳng thể nào sở hữu thứ gì có giá trị, cho đến khi cô y tá dọn phòng và phát hiện ra một tờ giấy nhàu nát dưới gối… Cô mở ra và phát hiện ra đó là một bài thơ viết tay. Khi đọc những dòng chữ trên tờ giấy cũ ấy, cô y tá đã không cầm được nước mắt… Bài thơ có tên “Cranky Old Man” (tạm dịch là Ông lão gàn dở).

2

“Ông lão gàn dở
Hỡi những cô y tá, cô thấy gì?
Cô nghĩ điều gì khi nhìn vào tôi?
Một ông lão ốm yếu, già nua và ngớ ngẩn
Tính tình thật kì quặc với đôi mắt xa xăm
Luôn rơi vãi thức ăn, chẳng mấy khi lên tiếng
Khi cô lớn tiếng quát: “Ông hãy cố một lần
Dường như ông không thấy, mọi điều mà tôi làm”

Người luôn mãi bỏ quên…một chiếc giày hay tất?
Chẳng bao giờ lên tiếng, để mặc cô làm việc
Tắm rửa và ăn uống, suốt cho một ngày dài
Đó là điều cô nghĩ, nhìn thấy, có phải không?
Nhìn kĩ hơn cô hỡi, cô chưa thấy tôi đâu
Hãy ngồi đây tôi kể, câu chuyện của đời mình

Khi tôi lên mười tuổi, sống với cha và mẹ
Với anh và với chị, những người yêu thương nhau
Rồi khi lên mười sáu, với đôi cánh trên chân
Luôn mơ mộng mỗi ngày, về tình yêu đích thực
Và chú rể đôi mươi, với trái tim rực cháy
Sống với lời nguyện thề, trọn đời xin gìn giữ.

3

Bước vào tuổi hai lăm, nuôi nấng đứa con mình
Luôn cần sự chỉ bảo, bên mái ấm yêu thương
Người đàn ông ba mươi, khi sức trai bùng cháy
Che chở cho mọi người, gắn bó mãi dài lâu
Tuổi bốn mươi ập tới, đàn con cất cánh bay
Người phụ nữ bên tôi, giúp vơi đi nỗi sầu
Năm mươi năm trôi qua, những đứa trẻ lại về
Một lần nữa trong tôi, hạnh phúc lại đong đầy.

4

Bóng tối bỗng che phủ, khi vợ hiền đi xa
Tôi nhìn vào tương lai, run rẩy và sợ hãi
Những đứa trẻ của tôi, chẳng thể nào gặp chúng
Năm tháng đã trôi qua, cuốn mất đi tình yêu
Giờ đây đã già nua, thiên nhiên thật tàn nhẫn
Tuổi già đến nhanh chóng, cứ ngỡ như trò đùa
Thân xác bỗng suy tàn, sức sống cũng ra đi
Tuy trái tim ngừng đập, chỉ còn là đá lạnh
Nhưng trong thân xác này, nhiệt huyết vẫn bùng cháy

Để rồi một ngày kia, trái tim bừng sống dậy
Tôi nhớ những niềm vui… tôi nhớ những nỗi buồn…
Tôi yêu và tôi sống, bắt đầu một lần nữa
Dù giây phút còn lại, ít ỏi và ngắn ngủi
Người ơi có biết chăng, chẳng có gì vĩnh cữu
Hãy mở mắt và nhìn
Chẳng phải lão già đâu
Hãy lại gần và thấy… một TÔI thật trẻ trung.”

         Bài thơ thực sự xúc động này sau đó đã lan truyền khắp nước Úc, có mặt trên mọi tạp chí trong lễ Giáng Sinh và trở thành một hiện tượng toàn cầu, lan truyền mạnh mẽ trên mạng Internet. Giá trị của bài thơ không phải nằm ở câu chữ ‘điêu luyện’, chau chuốt hay là một tác phẩm nghệ thuật kinh điển, mà nằm ở trái tim chân thành của một người đàn ông sắp về với Chúa nhớ về cuộc đời mình và nhắn nhủ với người ở lại.

Mak đã từng có một tuổi thơ yên bình với cha mẹ, có một người thầm thương trộm nhớ thời niên thiếu. Đến khi trưởng thành, ông xây dựng một tổ ấm hạnh phúc với người bạn đời và những đứa con ngoan. Thời gian trôi đi, khi chúng trưởng thành và rời xa ông, người vợ hiền đã bầu bạn với ông đến khi bà sang thế giới bên kia. Những kỷ niệm giản dị ấy là ‘vốn liếng’ quý giá nhất cho tuổi già cô đơn của Mak. Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, tuy sống trong cô đơn nghèo khổ, ông vẫn giữ một trái tim đầy lửa, vẫn muốn sống hết mình với cuộc đời.

Đời người tuy ngắn ngủi nhưng ai cũng có thể làm nó trở nên ý nghĩa nếu biết sống hết mình và trân trọng những điều giản dị. Từ lúc sinh ra, trưởng thành cho đến khi kết hôn và xây dựng gia đình, Mak cũng giống như bao người bình thường khác. Nhưng khác với sự bi quan thường thấy của tuổi già, Mak có một trái tim bỏng cháy. Ẩn sau dáng vẻ già nua, khắc khổ, người đàn ông này là cả một ‘kho báu’ tâm hồn vô giá.

Bài thơ cũng là lời nhắc nhở tới những người trẻ tuổi hãy cố gắng ở bên cha mẹ mình và chăm sóc họ khi còn có thể. Hãy quan tâm tới cảm xúc của cha mẹ thay vì bị cuốn đi bởi cuộc sống bề bộn, vì rất có thể một ngày bạn muốn nói lời yêu thương với họ thì đã quá muộn…

Tiếng hát trong mơ.

Em như loài chim lạ,

Xoải cánh trong chiều tà.

Hót ru bóng thời gian,

Khúc tình ca muôn điệu.

Từ biệt ánh tà dương.

Xưa có nàng con gái,

Cầu kinh trong sương mai.

Hương hoa lài, hoa sứ.

Ngát trong làn tóc bay.

“Đồng tiền” lẻ trên má.

Nụ cười xinh mặn mà.

Vốn buôn “duyên” bán “nợ”.

Say lòng kẻ phương xa.

Sao mắt tròn ẩn dấu.

Mênh mang nỗi u sầu.

Tôi cúi đầu ôm mộng,

Trút hết phần đớn đau.

Giọng hát em ngọt ngào.

Những cung bậc vút cao.

Ngân vang từ dĩ vãng.

Cho đến tận kiếp nào?

Hôm tôi mặc áo trắng,

Em mỉm cười yên lặng.

Khẽ hát THƯƠNG MỘT NGƯỜI.

Lòng xao xuyến băn khoăn.

HÌNH  ẢNH MỘT BUỔI CHIỀU.

TIẾNG THỜI GIAN huyền diệu.

Xuyên qua làn sóng vỗ.

Hòa theo nhịp thủy triều.

Hát lên NGÀY THÁNG HẠ,

Khi hàng phượng xanh lá.

Hoa đỏ rụng đầy sân.

GIỌT MƯA THU đến dần.

Trong GIÁO ĐƯỜNG IM BÓNG,

Bên ánh nến đợi mong.

Giáng Sinh đêm màu nhiệm.

Về sưởi lòng ĐÊM ĐÔNG

6856386ct2

 

Một đêm sao ẩn, trăng tàn.

Gió thì thầm lời oán than.

Biển đưa em về nguồn cội

Đớn đau bỏ lại gian trần!

ĐÊM THU, DẠ KHÚC  não nề.

Thời gian lặng lẽ lê thê.

Tôi đứng  bên lề tuyệt vọng.

Nhìn đêm phủ “cánh nhung mềm “.

Những chiều tàn nối tiếp,

Chim chiêm chiếp gọi đàn.

Hay hồn em hóa kiếp,

Vỗ về kẻ lang thang.

Giọng u buồn tha thiết,

Mong thắp lại vì sao,

Đã tắt ngày em chết,

Hôm mưa bão thét gào.

Tiếng em sao nghẹn ngào!

Vẫn hát trong chiêm bao.

Những khúc tình XA VẮNG.

Trên sóng đời lao xao.

Những đêm ray rứt lặng câm,

Tiếng em nức nở NGUYỆT CẦM

Trần gian chìm trong thinh lặng.

Đêm vàng nhuộm ánh trăng tan.

NGHẸN NGÀO em hát PHÔI PHA.

BIỆT LY, TIỄN BIỆT, CHIỀU  TÀ.

HOÀI CẢM, NGẬM NGÙI, TAN TÁC.

TÌM NHAU  tận cõi bao la.

Ánh NẮNG CHIỀU đã nhạt.

Trên mái tóc bạc phơ,

Bụi thời gian phủ mờ.

Vẫn còn nghe tiếng hát,

Vọng về từ trong mơ…

                                              Cung Thương  10-2016.

         *** Những chữ IN nghiêng là tên các bài hát.