Biển ngày không có nắng.

Có một ngày trời không có nắng, bầu trời xam xám từ sáng sớm. Từ “ban công” nhà nhìn ra chung quanh thấy đỉnh Núi Lớn mù mù trăng trắng làm nhớ Dalat hôm nào.  Màu mây sao ủ ê buồn thật buồn, lạc lỏng vài cánh chim lượn lờ , không nghe tiếng hót rộn rã thường ngày. Dự báo thời tiết có áp thấp, áp thấp có nguy cơ thành bão có khác!

Một vòng ra biển.. Biển cạn, ghe thuyền neo trên bãi cát yên lặng. Mặt nước xa tít  ngoài  kia. ..  Trên bãi cát mịn, ẩm ướt người ngồi, người đứng, người đi…Có những nhóm tụm ba,  tụm năm chuyện trò nhưng nhìn không vui lắm… Quen nhìn biển những hôm nước lớn, quen nhìn những con sóng tràn bờ, nhấp nhô tung bọt trắng xóa trên ghềnh đá, quen nhìn trời nắng trong xanh và màu nước cũng ngăn ngắt xanh, quen nhìn, quen nghe tiếng máy ghe xình xịch qua lại  rẻ nước trên mặt biển mênh mông… Biết sẽ có lắm người vui, dù rằng cảm giác trong lòng mình có.. một điều gì đó khi nghĩ đến con tôm, con cá đầy trong khoang tàu… Biển và những cuộc đời gắn liền với biển là thế mà.! Chuyện cũng bình thường!

Hôm nay, Biển cạn.. ghe thuyền không ào ạt ra khơi, nghe đâu có cơn bão xa đang hăm he đe dọa ..Thế nên người người hóa ra nhàn rổi… túm tụm chuyện trò, nghe ngóng … Nhìn người, nhìn biển trời một màu xam xám buồn chợt cũng thấy lòng không an ổn, cũng thấy ủ ê như màu mây nước.  Ôi,,, biết bao giờ mới “ nhìn núi là núi, nhìn sông là sông” đây? Khổ cái tâm chúng sinh của mình quá đỗi người ơi!

  

*** Một góc Bãi Trước một ngày có áp thấp gần bờ.

  AN_ 11/2017

Tĩnh lặng trong nội tâm.

Tĩnh lặng trong nội tâm. Sự tĩnh lặng đến từ minh triết…

Khi bạn mất liên lạc với sự tĩnh lặng nội tâm, bạn sẽ mất liên lạc với chính mình. Khi bạn mất liên lạc với chính mình, bạn sẽ đánh mất mình trong thế giới. Ý nghĩa sâu xa nhất về cái tôi của bạn, tức là chân tánh (who you are) của bạn không thể tách rời khỏi sự tĩnh lặng. Đây chính là cái Chân Ngã ( I Am ) vượt xa danh tướng (name and form) của bạn.

Bên trong bạn là một sự tĩnh lặng

Bên trong bạn là một sự tĩnh lặng

Sự tĩnh lặng chính là bản chất vô cùng quan yếu của bạn.

Nhưng sự tĩnh lặng là gì bạn nhỉ? Đó chính là không gian bên trong bạn, hay là ý thức mà từ đó những chữ trên trang giấy này được cảm nhận và trở thành nhận thức trong bạn. Nếu không có nhận thức đó, thì không có khái niệm, không có tư duy, và thế giới cũng chẳng có. Bạn chính là khả năng cảm nhận đó, qua hình dáng bên ngoài là một con người.

Tương tự như tiếng ồn ở bên ngoài, tâm trí của bạn cũng có sự huyên náo do suy nghĩ của bạn. Bên ngoài có sự tĩnh lặng của cảnh vật, thì bên trong cũng có sự tĩnh lặng của nội tâm. Khi bạn bắt gặp một sự yên tĩnh chung quanh mình, bạn lắng nghe sự yên tĩnh đó, bạn hãy chú tâm vào đó xem thử nó là cái gì. Lắng nghe sự tĩnh lặng, tức là bạn đang đánh thức một chiều không gian tĩnh lặng bên trong bạn, bởi vì chỉ qua sự tĩnh lặng bên ngoài, bạn mới có thể nhận ra sự yên tĩnh bên trong mình. Bạn sẽ thấy rằng những khoảnh khắc mà bạn lưu ý đến sự yên tĩnh bên ngoài, bạn không còn suy nghĩ trong đó, tức là bạn đang cảm nhận về nó mà hoàn toàn không cần phải tư duy. Khi bạn đang ở trong cảm nhận về sự yên tĩnh, tức là lúc bạn nhận ra có một trạng thái rất tĩnh lặng nằm sâu bên trong nội tâm của bạn. Ngay lúc này bạn mới thật sự hiện hữu. Bạn vừa làm một việc rất quan trọng, đó là đã bước ra khỏi tập quán tư duy cố hữu hàng ngàn năm của nhân loại.

Bây giờ bạn thử nhìn một cái cây, một bông hoa hay đám cỏ dại. Hãy tập trung ý thức của bạn trên những thứ ấy. Chúng có vẻ tĩnh lặng quá! Chúng có vẻ như đang bám sâu vào cái Thực tánh (Being) của chúng! Thiên nhiên đang dạy cho bạn về sự tĩnh lặng.

Khi nhìn vào một cái cây và nhận ra sự tĩnh lặng của nó, chính bạn cũng trở nên tĩnh lặng. Bạn đang nhận biết rằng bản thân mình cũng có một sự liên đới nào đó với cái cây này mà có vẻ vượt qua trí khôn của mình. Nhờ sự tĩnh lặng mà bạn cảm nhận được bản thân mình cùng một nhất thể (oneness) với mọi thứ mình đang cảm nhận. Cảm nhận được tính nhất thể với vạn vật chính là tình yêu hay lòng trắc ẩn của bạn đó.

Làm sao để có được tĩnh lặng?

Tuy sự yên lặng rất hữu ích cho bạn, nhưng không phải nhờ yên lặng bạn mới tìm thấy sự tĩnh lặng. Bởi vì ngay những lúc ồn ào nhất, bạn vẫn có thể nhận ra sự tĩnh lặng này nằm bên dưới sự ồn ào, chính là không gian đã phát ra sự ồn ào đó. Không gian này là ý thức tinh khiết mà chính nó đã nhận thức được bản thân nó. Cho nên bạn nhận ra có một sự nhận biết mà nó như một màn hình chiếu, còn mọi cảm nhận của giác quan và tư duy của bạn được chiếu lên trên đó. Khi nhận ra sự nhận biết này, cũng là lúc bạn đã tạo ra cho bản thân một nội tâm tĩnh lặng. Thế cho nên, bất kỳ một tiếng ồn cho dù nó gây khó chịu cho bạn, cũng rất cần cho bạn tìm thấy sự tĩnh lặng trong đó. Nhưng bằng cách nào đây? Bằng cách buông bỏ sự chống đối nội tâm về tiếng ồn, bằng cách hoàn toàn chấp nhận tiếng ồn như nó đang xảy ra. Sự chấp nhận này giúp bạn đi vào vương quốc của an bình nội tâm, vương quốc của sự thinh lặng.

Bất cứ khi nào bạn chấp nhận một cách triệt để từng khoảnh khắc hiện tại đúng những gì như nó đang hiện hữu, tức là dù hình thức bên ngoài biểu thị nó là cái gì chăng nữa, thì bạn đang trong sự yên tĩnh, đang trong sự yên bình. Thế cho nên, bạn hãy chú tâm đến các khoảng lặng: khoảng lặng giữa hai ý tưởng, khoảng lặng ngắn ngủi giữa những từ trong một câu nói, khoảng lặng giữa những nốt nhạc của tiếng dương cầm hay tiếng sáo, thậm chí khoảng lặng giữa thời gian hít vào và thở ra của bạn. Khi bạn chú tâm đến những khoảng lặng đó, nhận thức về “một cái gì đó” trở nên đơn thuần là nhận thức. Chiều không gian vô hình của nhận thức tinh khiết này được phát sinh từ bên trong bạn, và nó đã thay thế cho thói quen tự đồng hóa mình với những biểu hiện của hình tướng. Lúc này trí huệ của bạn đang hoạt động một cách âm thầm lặng lẽ. Cho nên, sự tĩnh lặng là nơi để bạn sáng tạo và tìm ra giải pháp cho mọi vấn nạn.

Như thế thì sự tĩnh lặng có phải là sự vắng mặt của tiếng ồn và những thứ gây ra tiếng ồn không? Xin thưa rằng: Không. Sự tĩnh lặng chính là bản chất của minh triết thiêng liêng, nó nằm dưới ý thức, nằm ngoài mọi thứ hữu hình đã được tạo thành trong vũ trụ. Như thế thì làm thế nào chúng ta có thể phân biệt nó với chân tánh của chúng ta được? Chính cái hình thể mà bạn đang nghĩ mình là ai đã được sinh ra từ cái đó, được duy trì và dung dưỡng bởi cái đó. Cái đó cũng chính là bản chất của mọi thiên hà trong vũ trụ, của từng ngọn cỏ, của mọi loài hoa, mọi cây cỏ, chim chóc và mọi tạo vật khác trong thế gian này.

Sự tĩnh lặng là vật thể duy nhất trong trong thế gian không có hình thể. Nhưng cũng chính vì nó không là vật thể, cho nên nó không thuộc về thế gian này. Khi bạn nhìn vào loài cỏ cây hay sinh thể con người từ sự tĩnh lặng bên trong bạn, thì ai đang nhìn chúng chứ đâu phải bạn? Chính là có một cái gì đó siêu hơn con người đang nhìn vào tạo vật của nó. Trong Tân Ước có nói rằng Thượng Đế đã sáng tạo ra thế gian và Ngài đã cảm nhận trong tĩnh lặng mà không có tư duy.

Bạn có cần thêm kiến thức hay cần thêm nhiều thông tin, cần thêm những chiếc máy điện toán có khả năng xử lý dữ liệu tốc độ nhanh hơn và khoa học hơn để cứu thế giới? Vào lúc này nhân loại đâu cần phải thêm trí tuệ nữa phải không? Nhưng trí tuệ là cái gì nhỉ? Và có thể tìm thấy nó ở đâu? Xin thưa, trí tuệ chỉ có thể có được qua khả năng giữ cho tâm mình thật tĩnh lặng. Rồi chỉ cần quan sát và lắng nghe. Bạn không cần làm thêm gì nữa.

Hãy tĩnh lặng, quan sát và lắng nghe sẽ phát sinh một sự thông tuệ mà không hề có khái niệm nào ở bên trong bạn.

Hãy để cho sự tĩnh lặng hướng dẫn tất cả những lời nói và việc làm của bạn.

 Thích Nguyên Hùng (Trích trong sách “Sức mạnh của tĩnh lặng” – Eckhart Tolle)

Tiếng hát với cung đàn.

             Anh từ từ chậm dần những nốt cuối cùng của bài hát trên cây đàn guitar để chấm dứt. Khi tiếng đàn ngân nga của anh tan biến trong không gian của phòng khách trong căn nhà nhỏ ấm cúng của anh, tôi với tay mò mẫm bấm nút STOP trên cái điện thoại di động để chấm dứt phần thâu. Chúng tôi hồi hộp cho hát lại bài hát vừa được thâu do chị hát và anh đàn, còn tôi thì làm… giám đốc vì tôi là chuyên gia luôn… xúi giục người khác. Từ cái điện thoại di động Samsung của tôi, tiếng đàn dạo đầu của anh nghe như mời gọi, rồi tiếng hát của chị cất lên, ấm cúng và ngọt ngào, quyện trong tiếng đàn của anh, lúc quấn quít trong giọt rãi nhẹ nhàng, lúc nhấn mạnh hỗ trợ khi giọng hát chị lên cao theo cung nhạc. Chúng tôi thở phào. Lần này là chắc cú vì tiếng đàn của anh sinh động, đầy hứng khởi và chị cũng đã giữ được giọng khá vững, với chỉ một sơ sót nhỏ có lẽ khi chị lạc mất lời nhạc. Cái sơ sót đó lại làm bản thâu rất thực và cho thấy những khó khăn trong công việc mà chúng tôi đang làm: cố gắng tập một bản nhạc hoàn toàn không quen thuộc với cả anh và chị. Tôi biên tập lại bài hát vừa thâu, cắt những đoạn mà chúng tôi nói chuyện lao xao, lọc tiếng ồn, rồi cuối cùng khuếch đại bài hát. Et voilà, bài hát đã được sẵn sàng để gởi đến nhóm THVT 68-75  hỏi ý kiến các bạn về đề nghị tham gia chương trình văn nghệ trong đại hội CHS THVT nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường 1954-2014.

Anh là một thành viên của nhóm THVT 68-75, còn chị là dâu hiền của nhóm. Anh là một tay guitar nghiệp dư xuất sắc với nhiều kỹ thuật đệm khác nhau, và cũng là một giọng bè có hạng, còn chị là một ca sĩ… karaoke có chất giọng ấm với kỹ thuật luyến láy rất… nhà nghề, và rất thích hát hò. Thời trung học của anh trải qua trong một ngôi trường trung học lớn nhất và có một truyền thống lâu dài nhất ở một thị xã nhỏ, trường Trung Học Vũng Tàu, chị trải qua ba năm sau cùng  thời trung học của chị trong một trường trung học mà trước biến cố 1975 được coi như là một trong hai trường trung học nữ tiêu biểu cho các nữ sinh Sài Gòn, trường Trưng Vương. Anh người Nam, còn chị người Bắc. Anh là cung đàn, còn chị là tiếng hát. Anh là Chiêu Giang, chị là Đoan Trang. Anh và chị có những tương phản nhưng lại bổ túc cho nhau. Và chỉ có định mệnh mới đem được hai người đến với nhau để trở thành tiếng hát với cung đàn trong nhóm THVT 68-75 chúng tôi.

Đoạn đời của anh sau năm 1975 rất long đong. Sau biến cố tháng Tư năm này, anh rời trường và không bao giờ trở lại để hoàn tất chương trình lớp 12. Anh làm đủ thứ công việc và học đủ thứ nghề để phụ giúp gia đình, vì lúc nầy gia đình anh bổng dưng phải đối diện với thực tại là ba của anh và người anh lớn sẽ  không có mặt trong mâm cơm gia đình trong bao nhiêu năm nữa trong một tương lai không biết trước được, bởi hai người  đang được tập trung để học tập cải tạo. Đầu mùa gió nồm năm 1981, anh đến Malaysia  và được nước Úc chấp nhận đơn xin định cư chỉ sau vài tuần khi anh  đến đảo Bidong. Ngay khi mùa giáng sinh năm đó kết thúc, anh xin vào làm công nhân vệ sinh trong một hãng và sau đó ít lâu được “thăng chức” làm công nhân dây chuyền cho hãng để có thể gởi tiền về giúp gia đình, anh em ở Việt Nam.

Với quyết tâm vươn lên làm chủ vận mệnh mình, anh dành dụm mua một xe tải và hợp đồng chuyên chở hàng hóa cho một hãng vận tải trong khi chưa rành rọt gì về đường xá Melbourne. Tài xế xe tải là một công việc nặng nề và ít hoạt động vì cứ phải lên xuống hàng hay phải ngồi lái, nhưng anh chấp nhận, rồi dần dần quen việc và công việc ngày càng vững vàng. Khi anh tìm được việc trong ngành bưu điện, anh bỏ công việc tài xế xe tải. Anh ổn định một thời gian trong công việc mới, nhưng có cái gì đó trong anh không ổn định, cứ thôi thúc anh. Anh nghỉ bưu điện ghi danh học đại học với ý định hoàn tất chương trình cử nhân văn khoa về thông phiên dịch. Anh cũng đồng thời dự cuộc thi tuyển của cảnh sát tiểu bang khi bang Victoria nới rộng tuổi cho những người muốn gia nhập lực lượng cảnh sát.

Khi anh trúng tuyển vào ngành cảnh sát, anh bỏ dở chương trình đại học để tham gia lực lượng Cảnh Sát Victoria. Thời gian huấn luyện thật là gian nan khổ sở. Nay anh bắt đầu chớm tuổi trung niên, và những năm khổ cực thời trẻ khiến thể lực của anh, tuy không tệ lắm so với những người cùng lứa tuổi, nhưng hoàn toàn là một thách đố cho anh để vượt qua tiêu chuẩn thể lực khi anh dự khóa huấn luyện. Cuối cùng, anh cũng vượt qua thử thách và tốt nghiệp. Nay anh đã tìm lại được chính mình, một con người năng nổ, gan dạ, phán đoán chính xác, quyết định hợp lý và đúng lúc. Anh thăng tiến nhanh trong ngành và là người Úc gốc Việt Nam đầu tiên trở thành thám tử (detective) trong lực lượng cảnh sát tiểu bang Victoria nước Úc. Anh đã được tưởng thưởng và tặng thưởng huy chương với những thành tích trong công tác của mình. Anh đã chuyển hóa được dòng định mệnh của anh.

Cuộc đời của chị thì ổn định và phẳng lặng hơn. Chị lớn lên ở khu xóm nhỏ ở chợ Thị Nghè, bên này của con kinh còn bên kia con kinh là vườn Bách thảo Sài Gòn, với những con đường ngoằn ngoèo đông đúc xe cộ tấp nập ồn ào. Chị học phần đầu chương trình trung học của mình tại trường cấp 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm và phần còn lại tại trường Trưng Vương.

Chị đã mê văn nghệ và thích ca hát ngay lúc còn là cô nữ sinh lớp Sáu. Sau buổi chào cờ một ngày thứ Hai nào đó, chị đã xung phong thay mặt lớp lên giúp vui văn nghệ. Chị chọn bài hát Mai Đây Hòa Bình của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng. Có lẽ cô học trò nhỏ đó đã hát với tất cả niềm say mê và bầu nhiệt huyết cho nên cả trường đã hưởng ứng hát theo cô khi giọng cô ngân nga, “Hòa bình ơi! Việt Nam ơi….”. Thế là chị được các bạn bầu làm trưởng ban văn nghệ và bài hát Mai Đây Hòa Bình do chị hát được trường chọn để tham gia chương trình văn nghệ cấp quận. Đến bây giờ, mỗi khi chị về Việt Nam thăm gia đình và gặp lại các bạn cũ, họ đều yêu cầu chị hát lại bài hát này để được nhớ về một thuở sinh hoạt học trò của cả bọn. Chị đã không có cơ hội tha thướt trong tà áo dài trắng bước đi trên con đường đầy cây cao bóng mát Nguyễn Bỉnh Khiêm để đến trường hằng ngày vì trong thời trung học của chị, áo dài bị coi là y phục của giới trưởng giả tư sản nên không được cho phép mặc trong công sở cũng như trong trường học!

Anh và chị gặp nhau năm 1991 và quyết định cùng nhau xây dựng một mái ấm gia đình. Chị học một khóa về giữ trẻ và mở dịch vụ giữ trẻ tại nhà để kiếm thêm thu nhập. Mới ngày nào mà nay đã hai mươi mấy năm. Tưởng chừng như mới hôm qua. Không biết bao nhiêu những cô bé con, chú bé con đã qua bàn tay chăm sóc dịu dàng của chị. Những cô bé, chú bé con ấy chắc nay đã lớn lắm rồi, như Khoa, con trai lớn của anh và chị, hiện nay đang ráo riết học chờ kỳ thi đại học sắp tới. Cô em Vy của Khoa cũng theo gót chân anh năm sau đó thôi.

Chị tiếc rẻ, chị không thể đi dự đại hội cựu học sinh của trường trung học của anh ở Nam Cali năm nay vì Khoa phải thi đại học. Các bạn trong nhóm niên khóa 68-75 email qua lại bàn cãi góp ý về chương trình tham gia văn nghệ sôi nổi quá làm chị cũng háo hức. Chị mỉm cười khi nghĩ tới nhóm bạn cùng trường của anh. Họ vẫn còn sôi nổi, râm ran, om xòm và huyên náo như thể họ vẫn còn là những cá nhân còn đang mài đũng quần trên ghế nhà trường năm xưa. Thế đấy, các nữ sinh, nam sinh nội ngoại, họ tự gọi. Thôi thì chị sẽ cố gắng đóng góp cho nhóm bạn của anh, nhóm THVT 68-75, bằng tiếng hát của chị để giúp nhóm tập dợt cho màn trình diễn của họ trong đại hội khi chị không thể có mặt để góp vui cùng họ. Thôi thì chị sẽ mặc chiếc áo dài trắng đi đến trường trong lời ca để bù đắp lại nổi mất mát về một tà áo dài trắng mà chị đã không có cơ hội được khoác vào người trong thời nữ sinh của chị. Rồi chị cất cao lời hát… và tiếng đàn của anh quấn quít ôm lấy tiếng hát của chị. Rồi tôi như thấy bóng dáng gầy gầy của chị, tay ôm cặp, đang bước đi trên con đường rợp bóng Nguyễn Bỉnh Khiêm, hai tà áo dài trắng bồng bềnh quấn quít bước chân, trong bài hát về một thời áo trắng.

Phải là định mệnh mới đem chị đến với anh, vượt qua đại dương xa xôi. Phải là định mệnh mới có thể đem tiếng hát đến với cung đàn.

Người Kể Chuyện (THVT 68-75).

Ngày ấy…

Giọt sương sớm, long lanh đầu ngọn cỏ.

Nắng ban mai, lấp lánh mái hiên nhà.

Nhạc trong xóm, bắt đầu cho ngày mới.

Bài “gia binh”, mỗi sáng quá thân quen.

Con hẻm nhỏ, đi về ngày hai buổi.

Bước đến trường, lòng rộn những niềm vui.

Áo dài trắng, mẹ may hãy còn mới.

Vạt thước tha, trong gió quyện la đà.

Đôi chân sáo không ngừng thôi nhảy nhót.

Tiếng cười vang, rộn rã cả hư không.

Chiếc cặp táp, nặng trì đôi tay nhỏ.

Nặng vở sách, nặng luôn chùm cóc chín.

Nặng chì màu, nặng cả gói me khô.

Tuổi mười Sáu, tuổi trăng tròn mơ ước .

Tuổi ô mai, tuổi ước vọng không ngừng.

Nơi tôi đến, ngôi trường nằm khép nép.

Cạnh giáo đường, vang vọng tiếng kinh chiều.

Cây điệp đỏ, sân trường tràn ánh nắng.

Tiếng chuông reng, buổi học cũng bắt đầu.

Bảng phấn trắng, thầy cô cùng các bạn.

Tiếp theo nhau, giờ học cũng qua mau.

Đông qua hết, những ngày xuân tiếp nối.

Hạ đến rồi, quyển lưu bút chia tay.

Dòng mực tím, viết rồi còn nhớ mãi.

Tuổi học trò, tuổi của những vấn vương.

Nay xa quá, những ngày xưa thân ái.

Năm tháng dài, tuổi trẻ đã không còn.

Nơi đất khách, lòng sao luôn tưởng nhớ.

Nơi quê nhà, đã quá những đổi thay.

Bạn cùng khoá, nay khắp cùng thế giới.

Chung tay cùng, đắp lại một ngày vui.

Cùng tưởng nhớ, cùng nhau hoài niệm lại

Những ngày xưa… ngày cắp sách đến trường.

                                                                  Ngọc Hiệp.

 

 

 

Yêu thương.

 

Yêu con bướm nhỏ mong manh

Đong đưa theo gió giọt lành phấn hoa

Thương cho một kiếp người ta

Ngày ngày kiếm sống lê la vỉa hè

Yêu giọt mưa ướt hoàng hôn

Giọt rơi tí tách gợi hồn thơ dâng

Thương ai manh áo tơi mang

Còng lưng một cõi gian nan đường trần

Yêu màu hoa biếc mùa xuân

Ý tình gieo rắt hương thuần thắm tươi

Thương người quang gánh cong oằn

Hoa tươi chợ sớm mang xuân tới đời

Yêu con chim nhỏ líu lo

Cất cao tiếng hót nhỏ to với đời

Thương người hát dạo chơi vơi

Lạc loài giọng hát nửa vời thinh không

Yêu cơn gió gợn bâng khuâng

Gió gợi niềm nhớ nỗi buồn không tên

Thương ai tấm áo chênh vênh

Co ro nép bóng lênh đênh một đời.

Yêu màu thu thắm vàng rơi

Con  đường trải lá như khơi tiếng lòng

Thương người phu quét lưng còng

Bao nhiêu lá rụng nhọc nhằn bấy nhiêu

Yêu đôi én lượn lưng trời

Dạt dào điệu múa nói lời yêu đương

Thương người gãy cánh uyên ương

Chong đèn tưởng nhớ đêm trường cô đơn.

                     Như Mây.

 

 

Đoản khúc về Trường và Bạn.

*

                                                    “Thời giờ thấm thoát thoi đưa,

     Nó đi đi mãi có chờ đợi ai…”

BƯỚC ĐẦU VÀO TRƯỜNG…

Hồi tưởng lại một chút về quá khứ… nhớ ngày nào mới đây thôi mà đã 40 năm rồi kể từ khi rời khỏi mái trường thân yêu, nơi đã đọng lại trong lòng biết bao nhiêu là kỷ niệm thời mình hãy còn non trẻ, nhớ những ngày đầu tiên bước chân vào ngôi trường thân yêu nằm bên cạnh ngôi giáo đường cổ kính, trường Trung Học Vũng Tàu…

Năm Mậu Thân 1968 , năm binh biến, chiến tranh leo thang và cũng là năm chúng tôi thi tuyển vào lớp đệ thất trường công lập duy nhất của thị xã mang tên Trung Học Vũng Tàu. Đến ngày niêm yết thông báo kết quả tuyển sinh, tôi  và Lê Đình Tân hẹn nhau đi chung để xem kết quả. Hồi học ở trường Nam tiểu học tôi và Tân học chung lớp và chơi với nhau rất thân vì cùng nhỏ con nên được cùng ngồi cạnh nhau ở bàn đầu. Nhà của Tân ở cư xá sĩ quan đối diện với trường, còn nhà tôi thì ở trại Gia Long, nằm bên hông, cạnh trường Nam .

Tôi và Tân rủ nhau đi sớm, nhưng đến nơi thì bên trong cổng trường dưới gốc cây me tây to nơi đặt dãy danh sách thí sinh trúng tuyển đã chật ních học sinh đang bu đầy chen chúc nhau dành xem kết quả.

Tôi, vì nhỏ con và đi trễ, nên không chen vào phía trên đầu bảng được, và bị đẩy lùi về phía cuối cùng. Dò ngược danh sách từ dưới lên trên, chen chúc nóng nực, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, căng mắt tìm một hồi lâu mà cũng vẫn chẳng thấy tên mình đâu cả. Tôi lo lắng và sợ sệt. Sợ vì nếu mà không có tên thì chắc là rớt và phải ở lại học lớp tiếp liên thì mắc cở lắm. Nhưng mà điều đáng sợ nhất là về nhà thế nào cũng sẽ bị lãnh một trận đòn bởi không nghe lời bố, không chịu lo ôn bài chuẩn bị cho kỳ thi cho tử tế mà chỉ lo ham chơi đánh bi đánh đáo.

Tôi dò đến hơn phân nữa danh sách thì bị chen ép đẩy tuột ra phía ngoài sau. Tôi đứng lo lắng, nước mắt đang chực trào ra.  Nước măt chưa kịp chảy thì tôi nghe tiếng Tân kêu “Hoàng ơi! mày đây nè, đây nè, mày đậu hạng năm lận”.  Tôi nhìn qua phía bên trái nơi Tân đang xem bảng, ráng chen vào đứng cạnh nó. Tôi nhìn theo ngón tay của nó thì thấy tên mình trên bảng danh sách. Khi này thì nước mắt tôi trào ra thực sự vì mừng rở. Hai đứa nấn ná một lúc, xem đi xem lại kết quả. Tân cũng đậu thứ hạng cao. Sau này hai đứa không còn học chung và thân nhau nữa vì Tân chọn Anh văn là môn sinh ngữ chính, còn tôi thì lại chọn Pháp văn. Trong sáu lớp đệ thất tuyển vảo năm đó chỉ có duy nhất một lớp Pháp văn, trong khi có tới năm lớp Anh văn. Lớp đệ thất P của chúng tôi có sĩ số khoảng  50 người, nửa trai nửa gái. Hai thủ khoa năm đó bên nam là Chung Hoa và nữ là Nguyễn Hương Quê đều đầu quân vào lớp đệ thất P.

NHỮNG NGƯỜI BẠN NAY KHÔNG CÒN…

Chúng tôi là lớp Pháp văn duy nhất trong 6 lớp đệ thất của niên khóa 68-75. Cùng học chung với nhau suốt từ lớp 6 đến lớp 9. Chuyện về các bạn lớp tôi mà từ ngày xưa chúng tôi đã mặc định gọi tên là gia đình 9P  thì nhiều vô kể. Hôm nay tôi xin được góp nhặt lại vài mẫu chuyện về các bạn đã không còn hiện diện trên cõi đời này nữa, gọi là một chút tưởng nhớ.

Trước tiên xin được nhắc đến Phan Trường Tuấn, một gương mặt hiền lành. Tuấn có dáng người cao ráo nho nhã, hơi có vẻ mảnh mai mà ngày xưa mình hay gọi là đói ăn còn thời đại bây giờ thì được gọi là siêu mẫu. Nhà Tuấn ở xóm vườn, cha là công chức ty Tràng tiền. Trong những năm học chung thì hầu như rất ít được nghe tiếng của anh ta, vì Tuấn hiền như cục đất, hể gặp mặt thì lúc nào cũng cứ cười cười. Trong lớp Tuấn ngồi chung với xóm nhà lá nhưng chẳng bao giờ được lên văn phòng giám thị để được vinh danh cấm túc như các bạn xóm này (lớp Pháp văn nổi tiếng phá phách, hay đánh nhau với các lớp khác). Hiền là vậy nhưng Tuấn lại ra đi quá sớm, bỏ lại người thân và bạn bè. Tuấn ra đi trong một chuyến vượt biển mưu tìm một cuộc sống mới nơi đất khách quê người. Tuấn biến mất biệt vô âm tín để lại bao nhớ thương trong lòng bạn bè về một người bạn hiền lành, chăm chỉ, một gương mặt sáng sủa đẹp trai phải sớm ra đi vì thời cuộc.

Nhân vật thứ hai với tính cách hoàn toàn trái ngược . Rất đẹp trai, học thì không khá nhưng phá thì vô địch. Đó là anh chàng Huỳnh Bửu Ngọc. Nhà Ngọc cũng ở xóm vườn, cũng có cha là công chức. Ngọc ngồi dãy bàn giữa cận xóm nhà lá. Gương mặt đẹp trai. Tóc mái trước hơi dợn quăn tự nhiên nên hay đưa tay làm dáng vuốt lên điệu nghệ. Áo luôn phẳng phiêu ôm sát người. Quần bó ống loe đúng mốt và chân đi đôi giầy Mọi,   thời trang lúc bấy giờ. Chỉ phải tội là hay cài bảng tên ở dây thắt lưng. Ngọc là khách hàng quen thân của cô Sâm giám thị và thầy La Quang Hải.

Năm lớp 9P, lớp Pháp văn tọa vị ở đầu dãy phía sau, cách một lối đi là hồ nước dùng cho phòng thí nghiệm và để rửa tay. Đây cũng là nơi mà các bạn nam trong lớp hay ngồi chơi khi vào lớp sớm, hoặc trong giờ ra chơi để điểm danh các em gái lớp đàn em hay đi ngang qua. Một hôm khi tiếng trống vang lên báo giờ ra chơi chấm dứt thì có vài cô bé chạy lại hồ nước vội rửa tay để vào lớp học. Lúc đó anh chàng Ngọc cũng đang rửa tay. Một cô bé đến lấy cái thùng xách nước đang để trên cạnh hồ mà anh Ngọc đã múc sẵn. thấy vậy Ngọc mới giằng co cái thùng với cô bé. Cứ nghĩ là lớp đàn anh thì phải nhường cho em gái lớp dưới nên cô ta cứ giật lấy cái thùng. Chỉ có điều là cô không ngờ là mình gặp tay bặm trợn thứ thiệt, chẳng những không nhường mà khi giật được cái thùng đầy nước anh Ngọc ta sẵn tay đổ thẳng lên đầu cô bé luôn. Tội nghiệp cô bé vừa khóc vừa đưa tay lên ôm ngực vì chiếc áo dài bị ướt hết chạy một mạch về lớp luôn mà khỏi cần phải rửa tay nữa. Sau đó thì Ngọc ta được thầy Hải điệu lên phòng giám thị để lãnh thêm huy chương vàng là một cấm túc.

**

Cuối năm lớp Mười, Ngọc đến tuổi quân dịch và đăng ký vào binh chủng nhẩy dù. Không biết cuộc đời binh nghiệp sống hùng sống mạnh của Ngọc ra sao nhưng đến gần ngày giải phóng thì được tin là dù của anh ta không còn bọc nữa ,mất tông biệt tích luôn từ đó! Ngọc đã mãi mãi ra đi để lại tiếc thương trong lòng bạn bè mà mỗi lần họp lớp là luôn được nhắc đến.

Chúng tôi có bốn năm đệ nhất cấp học chung với nhau, đến năm lớp 10 vì phân ban kẻ theo ban A, người theo ban B, một số bỏ trường lớp về Sài Gòn học tiếp, lại còn thêm vài thằng bạn đến tuổi quân dịch phải bỏ lớp lên đường nhập ngủ tòng chinh. Thế là tan đàn xẻ nghé .Tuy nhiên, những người bạn Pháp văn, sau bao nhiêu năm đến nay vẫn gắn bó như ngày nào. Mỗi lần có dịp tụ họp gặp gở thì thật là vui, bao nhiêu chuyện cũ trong lớp lại được đem ra kể lại để cùng nhau sống lại những ngày tháng thân thương của tuổi học trò. Những người còn hiện diện thăm hỏi nhau về những bạn bè xa xứ, có chút ít thông tin về ai thì kể cho nhau nghe, nhắc nhớ nhau về những người bạn vắn số rồi cùng nhau bùi ngùi thương tiếc.

                                                Nguyễn Kim Hoàng_ 4/2015.

                                  ĐS ChsTHVT 68-75 “ 40 Năm Ngày ấy…Bây giờ”

*** Hình tư liệu từ kho ảnh, không hẳn minh họa đi kèm bài viết.

Bạn của tôi Thinh và Tân.

 Hoàng Nghĩa Hưng(A3)

Nguyễn  văn Thinh học chung với tôi từ năm lớp bốn ở trường Nam Tiểu Học. Ngày nhỏ Thinh bé con, tóc luôn húi cua, cười hai má lúm đồng tiền trông rất dễ mến, có điều giọng nói thì không hiểu sao cứ khàn khàn như vịt đực, có lẽ vì thế trong lớp bọn nó cứ gọi Thinh là “ông già”. Thinh học giỏi, năm nào cũng được lĩnh thưởng, tính nết lại hiền lành chứ không hay nghịch ngợm như tôi, thế mà hai đứa lại chơi thân với nhau mới lạ. Tôi còn nhớ nhà Thinh đông anh em lắm, có lần Thinh dắt tôi về nhà giới thiệu anh này, chị kia, nhiều quá tôi không nhớ hết mặt. Nhà Thinh nằm ở góc đường sát bên trường, đi bộ chỉ dăm phút là đến.

Ba má Thinh có tủ sách cho mướn đủ các loại truyện. Tôi thì mê đọc truyện nhưng không có tiền để thuê, Thinh biết ý cứ thỉnh thoảng lại đem vào lớp cho tôi mượn, dĩ nhiên là không phải trả tiền. Bù lại Thinh bắt tôi vẽ cho Thinh hình Batman, siêu nhân rồi cấ tkỹ vào tập, Thinh mê hình tôi vẽ lắm. Vào trung học, tôi và Thinh lại vào cùng lớp 6A3, tuy hai đứa không còn ngồi chung dãy nhưng vẫn chơi thân với nhau đến lúc lên lớp 10. Tôi vào 10B1 cònThinh ở 10B4, từ đó hai đứa thỉnh thoảng mới có dịp gặp nhau. Bành chí Tân thì mãi vào lớp sáu tôi mới quen, nhưng lại là một trong hai người bạn thân nhất trong thời Đệ nhất cấp (cấp hai bây giờ) của tôi. Tân người gốc Hoa, nhà có tiệm cắt kiếng ở Bến Đình. Giống như Thinh, Tân cũng có biệt danh, bạn bè gọi Tân là “ông Bụng”. Thực tình đến bây giờ tôi vẫn không hiểu sao bọn nó lại gọi Tân như vậy vì tôi nhớ bụng Tân đâu có bự.

Tân hay ngồi chung bàn với tôi, học giỏi nên năm nào cũng được bầu làmTrưởng lớp hay Trưởng ban học tập. Tân hay cười, mỗi khi đắc ý thì cứ giật nảy người lên để cười, tay lại hay xoa vào bụng. Ồ hay là tại cái tật này mà Tân thành “ông Bụng”? Ông Bụng mê truyện của Duyên Anh kinh khủng, trong lớp cứ lén để cuốn truyện dưới hộc tủ để đọc. Mỗi khi đến đoạn nào thấm ý lại cười rúc rích như chuột vậy. Tân học chung với tôi đến hết năm lớp 9 thì từ giã để về Sài gòn theo học tại Petrus Ký, nhưng thỉnh thoảng có dịp về Vũng Tàu, Tân cũng lại ghé thăm tôi.

Sau 75, tôi không có nhiều dịp để gặp lại bạn cũ. Lần cuối tôi gặp lại Thinh và Tân là khoảng năm 78, Thinh bấy giờ khác hẳn thời đi học, cao hơn tôi gần nửa cái đầu, nghe nói vì Thinh hay đi bơi và bơi giỏi lắm. Tân thì có ghé nhà chơi với tôi cả ngày và ngủ lại, hai đứa tâm sự với nhau suốt đêm. Tôi nhớ lần đó chẳng có gì đãi Tân ngoại trừ luộc hai trái trứng vịt chấm nước mắm hai đứa ăn chung, thế mà Tân khen ngon đáo để. Sau đó không lâu, trong dịp về thăm nhà, tôi nghe bạn bè báo tin Thinh và Tân đã ra đi vĩnh viễn trong một tai nạn đường biển. Nghe nói vì Tân không biết bơi nên Thinh đã dìu Tân và chết chung với bạn.

Ngày nghe tin dữ tôi đã thảng thốt như không tin ở tai mình. Ngay đến tận bây giờ, khi ngồi gõ những dòng chữ này tôi vẫn thấy nước mắt mình như trực trào ra khi nhớ về hai người bạn cũ. Hai người bạn thân của tôi… mà chắc có lẽ cả đời này tôi không bao giờ quên được hai nụ cười dễ mến đó.

                                                Hoàng Nghĩa Hưng_2015.

 ĐS Chs THVT 68-75 “40 Năm Ngày ấy..Bây giờ” .