Tiếng hát với cung đàn.

             Anh từ từ chậm dần những nốt cuối cùng của bài hát trên cây đàn guitar để chấm dứt. Khi tiếng đàn ngân nga của anh tan biến trong không gian của phòng khách trong căn nhà nhỏ ấm cúng của anh, tôi với tay mò mẫm bấm nút STOP trên cái điện thoại di động để chấm dứt phần thâu. Chúng tôi hồi hộp cho hát lại bài hát vừa được thâu do chị hát và anh đàn, còn tôi thì làm… giám đốc vì tôi là chuyên gia luôn… xúi giục người khác. Từ cái điện thoại di động Samsung của tôi, tiếng đàn dạo đầu của anh nghe như mời gọi, rồi tiếng hát của chị cất lên, ấm cúng và ngọt ngào, quyện trong tiếng đàn của anh, lúc quấn quít trong giọt rãi nhẹ nhàng, lúc nhấn mạnh hỗ trợ khi giọng hát chị lên cao theo cung nhạc. Chúng tôi thở phào. Lần này là chắc cú vì tiếng đàn của anh sinh động, đầy hứng khởi và chị cũng đã giữ được giọng khá vững, với chỉ một sơ sót nhỏ có lẽ khi chị lạc mất lời nhạc. Cái sơ sót đó lại làm bản thâu rất thực và cho thấy những khó khăn trong công việc mà chúng tôi đang làm: cố gắng tập một bản nhạc hoàn toàn không quen thuộc với cả anh và chị. Tôi biên tập lại bài hát vừa thâu, cắt những đoạn mà chúng tôi nói chuyện lao xao, lọc tiếng ồn, rồi cuối cùng khuếch đại bài hát. Et voilà, bài hát đã được sẵn sàng để gởi đến nhóm THVT 68-75  hỏi ý kiến các bạn về đề nghị tham gia chương trình văn nghệ trong đại hội CHS THVT nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường 1954-2014.

Anh là một thành viên của nhóm THVT 68-75, còn chị là dâu hiền của nhóm. Anh là một tay guitar nghiệp dư xuất sắc với nhiều kỹ thuật đệm khác nhau, và cũng là một giọng bè có hạng, còn chị là một ca sĩ… karaoke có chất giọng ấm với kỹ thuật luyến láy rất… nhà nghề, và rất thích hát hò. Thời trung học của anh trải qua trong một ngôi trường trung học lớn nhất và có một truyền thống lâu dài nhất ở một thị xã nhỏ, trường Trung Học Vũng Tàu, chị trải qua ba năm sau cùng  thời trung học của chị trong một trường trung học mà trước biến cố 1975 được coi như là một trong hai trường trung học nữ tiêu biểu cho các nữ sinh Sài Gòn, trường Trưng Vương. Anh người Nam, còn chị người Bắc. Anh là cung đàn, còn chị là tiếng hát. Anh là Chiêu Giang, chị là Đoan Trang. Anh và chị có những tương phản nhưng lại bổ túc cho nhau. Và chỉ có định mệnh mới đem được hai người đến với nhau để trở thành tiếng hát với cung đàn trong nhóm THVT 68-75 chúng tôi.

Đoạn đời của anh sau năm 1975 rất long đong. Sau biến cố tháng Tư năm này, anh rời trường và không bao giờ trở lại để hoàn tất chương trình lớp 12. Anh làm đủ thứ công việc và học đủ thứ nghề để phụ giúp gia đình, vì lúc nầy gia đình anh bổng dưng phải đối diện với thực tại là ba của anh và người anh lớn sẽ  không có mặt trong mâm cơm gia đình trong bao nhiêu năm nữa trong một tương lai không biết trước được, bởi hai người  đang được tập trung để học tập cải tạo. Đầu mùa gió nồm năm 1981, anh đến Malaysia  và được nước Úc chấp nhận đơn xin định cư chỉ sau vài tuần khi anh  đến đảo Bidong. Ngay khi mùa giáng sinh năm đó kết thúc, anh xin vào làm công nhân vệ sinh trong một hãng và sau đó ít lâu được “thăng chức” làm công nhân dây chuyền cho hãng để có thể gởi tiền về giúp gia đình, anh em ở Việt Nam.

Với quyết tâm vươn lên làm chủ vận mệnh mình, anh dành dụm mua một xe tải và hợp đồng chuyên chở hàng hóa cho một hãng vận tải trong khi chưa rành rọt gì về đường xá Melbourne. Tài xế xe tải là một công việc nặng nề và ít hoạt động vì cứ phải lên xuống hàng hay phải ngồi lái, nhưng anh chấp nhận, rồi dần dần quen việc và công việc ngày càng vững vàng. Khi anh tìm được việc trong ngành bưu điện, anh bỏ công việc tài xế xe tải. Anh ổn định một thời gian trong công việc mới, nhưng có cái gì đó trong anh không ổn định, cứ thôi thúc anh. Anh nghỉ bưu điện ghi danh học đại học với ý định hoàn tất chương trình cử nhân văn khoa về thông phiên dịch. Anh cũng đồng thời dự cuộc thi tuyển của cảnh sát tiểu bang khi bang Victoria nới rộng tuổi cho những người muốn gia nhập lực lượng cảnh sát.

Khi anh trúng tuyển vào ngành cảnh sát, anh bỏ dở chương trình đại học để tham gia lực lượng Cảnh Sát Victoria. Thời gian huấn luyện thật là gian nan khổ sở. Nay anh bắt đầu chớm tuổi trung niên, và những năm khổ cực thời trẻ khiến thể lực của anh, tuy không tệ lắm so với những người cùng lứa tuổi, nhưng hoàn toàn là một thách đố cho anh để vượt qua tiêu chuẩn thể lực khi anh dự khóa huấn luyện. Cuối cùng, anh cũng vượt qua thử thách và tốt nghiệp. Nay anh đã tìm lại được chính mình, một con người năng nổ, gan dạ, phán đoán chính xác, quyết định hợp lý và đúng lúc. Anh thăng tiến nhanh trong ngành và là người Úc gốc Việt Nam đầu tiên trở thành thám tử (detective) trong lực lượng cảnh sát tiểu bang Victoria nước Úc. Anh đã được tưởng thưởng và tặng thưởng huy chương với những thành tích trong công tác của mình. Anh đã chuyển hóa được dòng định mệnh của anh.

Cuộc đời của chị thì ổn định và phẳng lặng hơn. Chị lớn lên ở khu xóm nhỏ ở chợ Thị Nghè, bên này của con kinh còn bên kia con kinh là vườn Bách thảo Sài Gòn, với những con đường ngoằn ngoèo đông đúc xe cộ tấp nập ồn ào. Chị học phần đầu chương trình trung học của mình tại trường cấp 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm và phần còn lại tại trường Trưng Vương.

Chị đã mê văn nghệ và thích ca hát ngay lúc còn là cô nữ sinh lớp Sáu. Sau buổi chào cờ một ngày thứ Hai nào đó, chị đã xung phong thay mặt lớp lên giúp vui văn nghệ. Chị chọn bài hát Mai Đây Hòa Bình của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng. Có lẽ cô học trò nhỏ đó đã hát với tất cả niềm say mê và bầu nhiệt huyết cho nên cả trường đã hưởng ứng hát theo cô khi giọng cô ngân nga, “Hòa bình ơi! Việt Nam ơi….”. Thế là chị được các bạn bầu làm trưởng ban văn nghệ và bài hát Mai Đây Hòa Bình do chị hát được trường chọn để tham gia chương trình văn nghệ cấp quận. Đến bây giờ, mỗi khi chị về Việt Nam thăm gia đình và gặp lại các bạn cũ, họ đều yêu cầu chị hát lại bài hát này để được nhớ về một thuở sinh hoạt học trò của cả bọn. Chị đã không có cơ hội tha thướt trong tà áo dài trắng bước đi trên con đường đầy cây cao bóng mát Nguyễn Bỉnh Khiêm để đến trường hằng ngày vì trong thời trung học của chị, áo dài bị coi là y phục của giới trưởng giả tư sản nên không được cho phép mặc trong công sở cũng như trong trường học!

Anh và chị gặp nhau năm 1991 và quyết định cùng nhau xây dựng một mái ấm gia đình. Chị học một khóa về giữ trẻ và mở dịch vụ giữ trẻ tại nhà để kiếm thêm thu nhập. Mới ngày nào mà nay đã hai mươi mấy năm. Tưởng chừng như mới hôm qua. Không biết bao nhiêu những cô bé con, chú bé con đã qua bàn tay chăm sóc dịu dàng của chị. Những cô bé, chú bé con ấy chắc nay đã lớn lắm rồi, như Khoa, con trai lớn của anh và chị, hiện nay đang ráo riết học chờ kỳ thi đại học sắp tới. Cô em Vy của Khoa cũng theo gót chân anh năm sau đó thôi.

Chị tiếc rẻ, chị không thể đi dự đại hội cựu học sinh của trường trung học của anh ở Nam Cali năm nay vì Khoa phải thi đại học. Các bạn trong nhóm niên khóa 68-75 email qua lại bàn cãi góp ý về chương trình tham gia văn nghệ sôi nổi quá làm chị cũng háo hức. Chị mỉm cười khi nghĩ tới nhóm bạn cùng trường của anh. Họ vẫn còn sôi nổi, râm ran, om xòm và huyên náo như thể họ vẫn còn là những cá nhân còn đang mài đũng quần trên ghế nhà trường năm xưa. Thế đấy, các nữ sinh, nam sinh nội ngoại, họ tự gọi. Thôi thì chị sẽ cố gắng đóng góp cho nhóm bạn của anh, nhóm THVT 68-75, bằng tiếng hát của chị để giúp nhóm tập dợt cho màn trình diễn của họ trong đại hội khi chị không thể có mặt để góp vui cùng họ. Thôi thì chị sẽ mặc chiếc áo dài trắng đi đến trường trong lời ca để bù đắp lại nổi mất mát về một tà áo dài trắng mà chị đã không có cơ hội được khoác vào người trong thời nữ sinh của chị. Rồi chị cất cao lời hát… và tiếng đàn của anh quấn quít ôm lấy tiếng hát của chị. Rồi tôi như thấy bóng dáng gầy gầy của chị, tay ôm cặp, đang bước đi trên con đường rợp bóng Nguyễn Bỉnh Khiêm, hai tà áo dài trắng bồng bềnh quấn quít bước chân, trong bài hát về một thời áo trắng.

Phải là định mệnh mới đem chị đến với anh, vượt qua đại dương xa xôi. Phải là định mệnh mới có thể đem tiếng hát đến với cung đàn.

Người Kể Chuyện (THVT 68-75).

Ngày ấy…

Giọt sương sớm, long lanh đầu ngọn cỏ.

Nắng ban mai, lấp lánh mái hiên nhà.

Nhạc trong xóm, bắt đầu cho ngày mới.

Bài “gia binh”, mỗi sáng quá thân quen.

Con hẻm nhỏ, đi về ngày hai buổi.

Bước đến trường, lòng rộn những niềm vui.

Áo dài trắng, mẹ may hãy còn mới.

Vạt thước tha, trong gió quyện la đà.

Đôi chân sáo không ngừng thôi nhảy nhót.

Tiếng cười vang, rộn rã cả hư không.

Chiếc cặp táp, nặng trì đôi tay nhỏ.

Nặng vở sách, nặng luôn chùm cóc chín.

Nặng chì màu, nặng cả gói me khô.

Tuổi mười Sáu, tuổi trăng tròn mơ ước .

Tuổi ô mai, tuổi ước vọng không ngừng.

Nơi tôi đến, ngôi trường nằm khép nép.

Cạnh giáo đường, vang vọng tiếng kinh chiều.

Cây điệp đỏ, sân trường tràn ánh nắng.

Tiếng chuông reng, buổi học cũng bắt đầu.

Bảng phấn trắng, thầy cô cùng các bạn.

Tiếp theo nhau, giờ học cũng qua mau.

Đông qua hết, những ngày xuân tiếp nối.

Hạ đến rồi, quyển lưu bút chia tay.

Dòng mực tím, viết rồi còn nhớ mãi.

Tuổi học trò, tuổi của những vấn vương.

Nay xa quá, những ngày xưa thân ái.

Năm tháng dài, tuổi trẻ đã không còn.

Nơi đất khách, lòng sao luôn tưởng nhớ.

Nơi quê nhà, đã quá những đổi thay.

Bạn cùng khoá, nay khắp cùng thế giới.

Chung tay cùng, đắp lại một ngày vui.

Cùng tưởng nhớ, cùng nhau hoài niệm lại

Những ngày xưa… ngày cắp sách đến trường.

                                                                  Ngọc Hiệp.

 

 

 

Yêu thương.

 

Yêu con bướm nhỏ mong manh

Đong đưa theo gió giọt lành phấn hoa

Thương cho một kiếp người ta

Ngày ngày kiếm sống lê la vỉa hè

Yêu giọt mưa ướt hoàng hôn

Giọt rơi tí tách gợi hồn thơ dâng

Thương ai manh áo tơi mang

Còng lưng một cõi gian nan đường trần

Yêu màu hoa biếc mùa xuân

Ý tình gieo rắt hương thuần thắm tươi

Thương người quang gánh cong oằn

Hoa tươi chợ sớm mang xuân tới đời

Yêu con chim nhỏ líu lo

Cất cao tiếng hót nhỏ to với đời

Thương người hát dạo chơi vơi

Lạc loài giọng hát nửa vời thinh không

Yêu cơn gió gợn bâng khuâng

Gió gợi niềm nhớ nỗi buồn không tên

Thương ai tấm áo chênh vênh

Co ro nép bóng lênh đênh một đời.

Yêu màu thu thắm vàng rơi

Con  đường trải lá như khơi tiếng lòng

Thương người phu quét lưng còng

Bao nhiêu lá rụng nhọc nhằn bấy nhiêu

Yêu đôi én lượn lưng trời

Dạt dào điệu múa nói lời yêu đương

Thương người gãy cánh uyên ương

Chong đèn tưởng nhớ đêm trường cô đơn.

                     Như Mây.

 

 

Đoản khúc về Trường và Bạn.

*

                                                    “Thời giờ thấm thoát thoi đưa,

     Nó đi đi mãi có chờ đợi ai…”

BƯỚC ĐẦU VÀO TRƯỜNG…

Hồi tưởng lại một chút về quá khứ… nhớ ngày nào mới đây thôi mà đã 40 năm rồi kể từ khi rời khỏi mái trường thân yêu, nơi đã đọng lại trong lòng biết bao nhiêu là kỷ niệm thời mình hãy còn non trẻ, nhớ những ngày đầu tiên bước chân vào ngôi trường thân yêu nằm bên cạnh ngôi giáo đường cổ kính, trường Trung Học Vũng Tàu…

Năm Mậu Thân 1968 , năm binh biến, chiến tranh leo thang và cũng là năm chúng tôi thi tuyển vào lớp đệ thất trường công lập duy nhất của thị xã mang tên Trung Học Vũng Tàu. Đến ngày niêm yết thông báo kết quả tuyển sinh, tôi  và Lê Đình Tân hẹn nhau đi chung để xem kết quả. Hồi học ở trường Nam tiểu học tôi và Tân học chung lớp và chơi với nhau rất thân vì cùng nhỏ con nên được cùng ngồi cạnh nhau ở bàn đầu. Nhà của Tân ở cư xá sĩ quan đối diện với trường, còn nhà tôi thì ở trại Gia Long, nằm bên hông, cạnh trường Nam .

Tôi và Tân rủ nhau đi sớm, nhưng đến nơi thì bên trong cổng trường dưới gốc cây me tây to nơi đặt dãy danh sách thí sinh trúng tuyển đã chật ních học sinh đang bu đầy chen chúc nhau dành xem kết quả.

Tôi, vì nhỏ con và đi trễ, nên không chen vào phía trên đầu bảng được, và bị đẩy lùi về phía cuối cùng. Dò ngược danh sách từ dưới lên trên, chen chúc nóng nực, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, căng mắt tìm một hồi lâu mà cũng vẫn chẳng thấy tên mình đâu cả. Tôi lo lắng và sợ sệt. Sợ vì nếu mà không có tên thì chắc là rớt và phải ở lại học lớp tiếp liên thì mắc cở lắm. Nhưng mà điều đáng sợ nhất là về nhà thế nào cũng sẽ bị lãnh một trận đòn bởi không nghe lời bố, không chịu lo ôn bài chuẩn bị cho kỳ thi cho tử tế mà chỉ lo ham chơi đánh bi đánh đáo.

Tôi dò đến hơn phân nữa danh sách thì bị chen ép đẩy tuột ra phía ngoài sau. Tôi đứng lo lắng, nước mắt đang chực trào ra.  Nước măt chưa kịp chảy thì tôi nghe tiếng Tân kêu “Hoàng ơi! mày đây nè, đây nè, mày đậu hạng năm lận”.  Tôi nhìn qua phía bên trái nơi Tân đang xem bảng, ráng chen vào đứng cạnh nó. Tôi nhìn theo ngón tay của nó thì thấy tên mình trên bảng danh sách. Khi này thì nước mắt tôi trào ra thực sự vì mừng rở. Hai đứa nấn ná một lúc, xem đi xem lại kết quả. Tân cũng đậu thứ hạng cao. Sau này hai đứa không còn học chung và thân nhau nữa vì Tân chọn Anh văn là môn sinh ngữ chính, còn tôi thì lại chọn Pháp văn. Trong sáu lớp đệ thất tuyển vảo năm đó chỉ có duy nhất một lớp Pháp văn, trong khi có tới năm lớp Anh văn. Lớp đệ thất P của chúng tôi có sĩ số khoảng  50 người, nửa trai nửa gái. Hai thủ khoa năm đó bên nam là Chung Hoa và nữ là Nguyễn Hương Quê đều đầu quân vào lớp đệ thất P.

NHỮNG NGƯỜI BẠN NAY KHÔNG CÒN…

Chúng tôi là lớp Pháp văn duy nhất trong 6 lớp đệ thất của niên khóa 68-75. Cùng học chung với nhau suốt từ lớp 6 đến lớp 9. Chuyện về các bạn lớp tôi mà từ ngày xưa chúng tôi đã mặc định gọi tên là gia đình 9P  thì nhiều vô kể. Hôm nay tôi xin được góp nhặt lại vài mẫu chuyện về các bạn đã không còn hiện diện trên cõi đời này nữa, gọi là một chút tưởng nhớ.

Trước tiên xin được nhắc đến Phan Trường Tuấn, một gương mặt hiền lành. Tuấn có dáng người cao ráo nho nhã, hơi có vẻ mảnh mai mà ngày xưa mình hay gọi là đói ăn còn thời đại bây giờ thì được gọi là siêu mẫu. Nhà Tuấn ở xóm vườn, cha là công chức ty Tràng tiền. Trong những năm học chung thì hầu như rất ít được nghe tiếng của anh ta, vì Tuấn hiền như cục đất, hể gặp mặt thì lúc nào cũng cứ cười cười. Trong lớp Tuấn ngồi chung với xóm nhà lá nhưng chẳng bao giờ được lên văn phòng giám thị để được vinh danh cấm túc như các bạn xóm này (lớp Pháp văn nổi tiếng phá phách, hay đánh nhau với các lớp khác). Hiền là vậy nhưng Tuấn lại ra đi quá sớm, bỏ lại người thân và bạn bè. Tuấn ra đi trong một chuyến vượt biển mưu tìm một cuộc sống mới nơi đất khách quê người. Tuấn biến mất biệt vô âm tín để lại bao nhớ thương trong lòng bạn bè về một người bạn hiền lành, chăm chỉ, một gương mặt sáng sủa đẹp trai phải sớm ra đi vì thời cuộc.

Nhân vật thứ hai với tính cách hoàn toàn trái ngược . Rất đẹp trai, học thì không khá nhưng phá thì vô địch. Đó là anh chàng Huỳnh Bửu Ngọc. Nhà Ngọc cũng ở xóm vườn, cũng có cha là công chức. Ngọc ngồi dãy bàn giữa cận xóm nhà lá. Gương mặt đẹp trai. Tóc mái trước hơi dợn quăn tự nhiên nên hay đưa tay làm dáng vuốt lên điệu nghệ. Áo luôn phẳng phiêu ôm sát người. Quần bó ống loe đúng mốt và chân đi đôi giầy Mọi,   thời trang lúc bấy giờ. Chỉ phải tội là hay cài bảng tên ở dây thắt lưng. Ngọc là khách hàng quen thân của cô Sâm giám thị và thầy La Quang Hải.

Năm lớp 9P, lớp Pháp văn tọa vị ở đầu dãy phía sau, cách một lối đi là hồ nước dùng cho phòng thí nghiệm và để rửa tay. Đây cũng là nơi mà các bạn nam trong lớp hay ngồi chơi khi vào lớp sớm, hoặc trong giờ ra chơi để điểm danh các em gái lớp đàn em hay đi ngang qua. Một hôm khi tiếng trống vang lên báo giờ ra chơi chấm dứt thì có vài cô bé chạy lại hồ nước vội rửa tay để vào lớp học. Lúc đó anh chàng Ngọc cũng đang rửa tay. Một cô bé đến lấy cái thùng xách nước đang để trên cạnh hồ mà anh Ngọc đã múc sẵn. thấy vậy Ngọc mới giằng co cái thùng với cô bé. Cứ nghĩ là lớp đàn anh thì phải nhường cho em gái lớp dưới nên cô ta cứ giật lấy cái thùng. Chỉ có điều là cô không ngờ là mình gặp tay bặm trợn thứ thiệt, chẳng những không nhường mà khi giật được cái thùng đầy nước anh Ngọc ta sẵn tay đổ thẳng lên đầu cô bé luôn. Tội nghiệp cô bé vừa khóc vừa đưa tay lên ôm ngực vì chiếc áo dài bị ướt hết chạy một mạch về lớp luôn mà khỏi cần phải rửa tay nữa. Sau đó thì Ngọc ta được thầy Hải điệu lên phòng giám thị để lãnh thêm huy chương vàng là một cấm túc.

**

Cuối năm lớp Mười, Ngọc đến tuổi quân dịch và đăng ký vào binh chủng nhẩy dù. Không biết cuộc đời binh nghiệp sống hùng sống mạnh của Ngọc ra sao nhưng đến gần ngày giải phóng thì được tin là dù của anh ta không còn bọc nữa ,mất tông biệt tích luôn từ đó! Ngọc đã mãi mãi ra đi để lại tiếc thương trong lòng bạn bè mà mỗi lần họp lớp là luôn được nhắc đến.

Chúng tôi có bốn năm đệ nhất cấp học chung với nhau, đến năm lớp 10 vì phân ban kẻ theo ban A, người theo ban B, một số bỏ trường lớp về Sài Gòn học tiếp, lại còn thêm vài thằng bạn đến tuổi quân dịch phải bỏ lớp lên đường nhập ngủ tòng chinh. Thế là tan đàn xẻ nghé .Tuy nhiên, những người bạn Pháp văn, sau bao nhiêu năm đến nay vẫn gắn bó như ngày nào. Mỗi lần có dịp tụ họp gặp gở thì thật là vui, bao nhiêu chuyện cũ trong lớp lại được đem ra kể lại để cùng nhau sống lại những ngày tháng thân thương của tuổi học trò. Những người còn hiện diện thăm hỏi nhau về những bạn bè xa xứ, có chút ít thông tin về ai thì kể cho nhau nghe, nhắc nhớ nhau về những người bạn vắn số rồi cùng nhau bùi ngùi thương tiếc.

                                                Nguyễn Kim Hoàng_ 4/2015.

                                  ĐS ChsTHVT 68-75 “ 40 Năm Ngày ấy…Bây giờ”

*** Hình tư liệu từ kho ảnh, không hẳn minh họa đi kèm bài viết.

Bạn của tôi Thinh và Tân.

 Hoàng Nghĩa Hưng(A3)

Nguyễn  văn Thinh học chung với tôi từ năm lớp bốn ở trường Nam Tiểu Học. Ngày nhỏ Thinh bé con, tóc luôn húi cua, cười hai má lúm đồng tiền trông rất dễ mến, có điều giọng nói thì không hiểu sao cứ khàn khàn như vịt đực, có lẽ vì thế trong lớp bọn nó cứ gọi Thinh là “ông già”. Thinh học giỏi, năm nào cũng được lĩnh thưởng, tính nết lại hiền lành chứ không hay nghịch ngợm như tôi, thế mà hai đứa lại chơi thân với nhau mới lạ. Tôi còn nhớ nhà Thinh đông anh em lắm, có lần Thinh dắt tôi về nhà giới thiệu anh này, chị kia, nhiều quá tôi không nhớ hết mặt. Nhà Thinh nằm ở góc đường sát bên trường, đi bộ chỉ dăm phút là đến.

Ba má Thinh có tủ sách cho mướn đủ các loại truyện. Tôi thì mê đọc truyện nhưng không có tiền để thuê, Thinh biết ý cứ thỉnh thoảng lại đem vào lớp cho tôi mượn, dĩ nhiên là không phải trả tiền. Bù lại Thinh bắt tôi vẽ cho Thinh hình Batman, siêu nhân rồi cấ tkỹ vào tập, Thinh mê hình tôi vẽ lắm. Vào trung học, tôi và Thinh lại vào cùng lớp 6A3, tuy hai đứa không còn ngồi chung dãy nhưng vẫn chơi thân với nhau đến lúc lên lớp 10. Tôi vào 10B1 cònThinh ở 10B4, từ đó hai đứa thỉnh thoảng mới có dịp gặp nhau. Bành chí Tân thì mãi vào lớp sáu tôi mới quen, nhưng lại là một trong hai người bạn thân nhất trong thời Đệ nhất cấp (cấp hai bây giờ) của tôi. Tân người gốc Hoa, nhà có tiệm cắt kiếng ở Bến Đình. Giống như Thinh, Tân cũng có biệt danh, bạn bè gọi Tân là “ông Bụng”. Thực tình đến bây giờ tôi vẫn không hiểu sao bọn nó lại gọi Tân như vậy vì tôi nhớ bụng Tân đâu có bự.

Tân hay ngồi chung bàn với tôi, học giỏi nên năm nào cũng được bầu làmTrưởng lớp hay Trưởng ban học tập. Tân hay cười, mỗi khi đắc ý thì cứ giật nảy người lên để cười, tay lại hay xoa vào bụng. Ồ hay là tại cái tật này mà Tân thành “ông Bụng”? Ông Bụng mê truyện của Duyên Anh kinh khủng, trong lớp cứ lén để cuốn truyện dưới hộc tủ để đọc. Mỗi khi đến đoạn nào thấm ý lại cười rúc rích như chuột vậy. Tân học chung với tôi đến hết năm lớp 9 thì từ giã để về Sài gòn theo học tại Petrus Ký, nhưng thỉnh thoảng có dịp về Vũng Tàu, Tân cũng lại ghé thăm tôi.

Sau 75, tôi không có nhiều dịp để gặp lại bạn cũ. Lần cuối tôi gặp lại Thinh và Tân là khoảng năm 78, Thinh bấy giờ khác hẳn thời đi học, cao hơn tôi gần nửa cái đầu, nghe nói vì Thinh hay đi bơi và bơi giỏi lắm. Tân thì có ghé nhà chơi với tôi cả ngày và ngủ lại, hai đứa tâm sự với nhau suốt đêm. Tôi nhớ lần đó chẳng có gì đãi Tân ngoại trừ luộc hai trái trứng vịt chấm nước mắm hai đứa ăn chung, thế mà Tân khen ngon đáo để. Sau đó không lâu, trong dịp về thăm nhà, tôi nghe bạn bè báo tin Thinh và Tân đã ra đi vĩnh viễn trong một tai nạn đường biển. Nghe nói vì Tân không biết bơi nên Thinh đã dìu Tân và chết chung với bạn.

Ngày nghe tin dữ tôi đã thảng thốt như không tin ở tai mình. Ngay đến tận bây giờ, khi ngồi gõ những dòng chữ này tôi vẫn thấy nước mắt mình như trực trào ra khi nhớ về hai người bạn cũ. Hai người bạn thân của tôi… mà chắc có lẽ cả đời này tôi không bao giờ quên được hai nụ cười dễ mến đó.

                                                Hoàng Nghĩa Hưng_2015.

 ĐS Chs THVT 68-75 “40 Năm Ngày ấy..Bây giờ” .

Nghịch Mưa.

Mùa Hè năm nay có những cơn mưa đến sớm. Có khi mưa nửa đêm ầm ào, sấm sét, có lúc mưa rào rào sáng sớm rồi nhanh chóng khô quánh, nắng lên hừng hững, cũng có lúc bất chợt lắc rắc rồi xối xả từ lúc nhập nhoạng đến hoàng hôn như muốn đuổi mặt trời đi ngủ sớm.

Mùa Hè năm nay nghe đâu lại “El Nino” nữa.. Khí hậu, thời tiết ngày càng lạ, càng khó lường, người ta nói tất cả cũng do con người mà ra thôi…Ô lại “ mình giết mình”ư?

Mùa Hè, nóng thật! nhớ trong giờ nghe Pháp, giảng sư hỏi : _ Quí vị có thấy nóng không?

Mọi người đều đồng thanh: _ Dạ nóng quá Thầy !

Giảng sư cười và hỏi: _ À, vậy rồi quí vị làm sao?

Cả Đạo tràng hơi ..khựng lại. Tôi buột miệng : “ dạ…Quạt!”  Bà bạn kế bên  bật cười khi nghe tôi trả lời. Tôi cũng vừa cười vừa nói: ” Vậy thôi, chớ sao giờ?”

Giảng sư cười tủm tỉm :_ Nóng thì.. quạt.! Có quạt máy thì mở quạt máy, có máy lạnh thì mở máy lạnh, hông có.. thì…quạt tay! Ha!

Cười rần. Đơn giản thôi mà! Vậy mà có lúc mình ..ngẩn ngơ, có lúc mình chạy đi xa ôi là xa… Chạy đi , chạy lại hụt hơi rồi mệt quá ngồi nghĩ: “ Ủa sao mắc chi mà chạy dữ vậy?”  Khổ là chỗ đó!

Chiều nay, trời cũng bất chợt vần vũ rồi mưa, mưa nhè nhẹ rồi dần nặng hạt, rồi bầu trời bỗng trắng trắng, mờ mờ một màu nước. Chạy lên đóng hết mấy cánh cửa, thấy mưa bỗng dưng chợt nhớ đến cái máy ảnh.: “ sao không tập chụp mưa nhỉ?” Mưa rào rào, có cửa sổ mặt kính chỉ mờ mờ bóng nước, có cái nước chảy ròng ròng từng vệt dài loang lỡ, có chỗ thấy cây lá nhờ nhờ phất phơ,có chỗ nhìn ra thấy Núi lớn đằng xa mịt mờ, thêm mấy cái nóc nhà nhấp nhô, Thực.. cũng chả được cái “view” nào đẹp cả, trời chưa tối hẳn, đèn đường chưa lên, trong màn mưa chỉ thấy vách tường và nóc nhà hàng xóm.Nhưng đã bảo tập chụp mưa cơ mà, thôi thì cứ thử…tìm cái góc mà chụp chứ!Chụp sao cho ra những sợi mưa, những giọt nước…à ha!

Trên ban-cong thấy mưa rào rào ướt đẫm mấy thân hồng gai nhọn, nhìn mãi những giọt nước đọng trên nhánh cây tí tách nhỏ giọt, từng hạt nước lấp lánh trong sắc chiều nhạt tụ lại tròn trịa, lóng lánh, rồi rơi xuống vỡ tan, biến mất…Lại đứng lên qua khung cửa khác nhìn xuống cái sân loang loáng nước, những tàu cau mờ mờ phất phơ trong màn trắng, cái khung kính có những sợi mưa mỏng bay bay vì trời vẫn còn sáng nhờ nhờ ngoài kia. Mưa như khói và mưa như tơ !. Chợt nhìn sang khung cửa bên nầy, gió theo chiều, hắt những sợi mưa đập thẳng vào  kính, những sợi mưa biến thành từng vệt nước chảy dài, ràn rụa như nước mắt khóc người. ..Nhà có nhiều cửa sổ, tôi như đứa trẻ con nghịch ngợm, hết chạy lên lầu lại ..bò xuống đất.

Mưa vẫn cứ mưa… qua  từng ô cửa, cảnh vật bên ngoài cũng khác nhau, và..những hạt mưa hình như cũng khác. Có khung cửa vẫn nhìn thấy màu lá xanh tươi non như đang tắm trong nước hồi sinh, không còn khô cằn, queo quắt như dưới trời nắng lửa buổi trưa. Có góc khuất mưa làm những vạt lá thẫm màu, một màu tối buồn buồn dù trời chưa hẳn là đêm. Trên mặt kính những giọt nước dưới ánh sáng trời, dưới ánh đèn flash cũng khác.. Tôi cứ hí hoáy và tanh tách bấm… từng khung ảnh theo góc máy khác nhau hiện lên trên màn hình mỗi khi “review.” Trong cái cảm giác thích thú nhìn mỗi tấm ảnh về mưa vừa chụp được.. không dưng  chợt nhớ bài Kệ Phật nói trong Kinh Kim Cang:

“Nhất thiết hữu vi pháp,

Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ diệc như điện,

Ưng tác như thị quán.”

Dịch nghĩa:

“Tất cả pháp hữu vi,

Như mộng, huyễn, bọt, bóng,

Như sương, như chớp loé,

Hãy quán chiếu như thế.”

      Ừ nhỉ! Mưa từ đâu? Nắng từ đâu? Nước từ đâu? Trời đang nắng bỗng chốc rồi mây đâu bay đến, bỗng chốc rồi nắng nhạt nhòa , bỗng chốc rồi nước từ trời ào ạt. Trời vừa nắng nóng bỗng dưng dịu mát, cây lá vừa ủ ê chợt tươi tắn, mượt mà. Những giọt nước long lanh vừa lấp lánh giờ thì biến mất chỉ còn trơ thân hồng  ẩm ướt  ( khoa học giải thích rồi đấy chứ, từ đâu, từ đâu ai mà chả biết??? Ấy ấy.. vẫn có những cái đến..tận cùng vẫn chưa có lời giải đáp từ..khoa học?)

Giữa hè trời đang nắng nóng, mưa đến làm không khí dịu mát hẳn và lòng người cũng nhẹ nhàng, mát mẻ như mưa.. Tâm con người ta đấy, nó cứ đổi thay xoành xoạch từ sáng đến tối mờ. Khi vui, lúc buồn. Cảnh ngoài trời cũng thế chớp mắt đã đổi thay nhanh đến không ngờ. Nhớ những buổi chiều lang thang ngoài bờ biển , hoàng hôn buông và sắc trời biến đổi thật lạ lùng , thật nhanh tưởng như trời đang làm ảo thuật. Rõ là cảnh như huyễn..như mơ.!Chẳng có cái gì mãi mãi cứ là như thế trước con mắt người.

                                      “Tất cả pháp hữu vi,

                                          Như mộng, huyễn, bọt, bóng,

                                           Như sương, như chớp loé”.

Vậy đấy, những lời vàng từ Kim khẩu của Như Lai, mấy ngàn năm vẫn không suy suyễn.. Hãy luôn sống với thực tại, hãy luôn quán chiếu, quán chiếu bằng con mắt của trí tuệ, bằng cái tâm chánh định, để nhìn rõ thực tướng của các pháp mà hài lòng, mà chấp nhận cái vô thường rõ ràng không sai chạy… để an vui, để thấy hạnh phúc hiện tiền.. Vậy mà… Ô thật thương cho mình quá thể! Đường sao còn xa quá Phật ơi!

                                                                AN_5/ 2017.

 

 

 

 

 

Nhớ về Trường xưa

Trời Chicago hơi lành lạnh, những cơn gió lạnh báo hiệu mùa đông đã gần kề, mới vài tuần trước đây hàng cây trước nhà tôi rất đẹp. Vậy mà đến nay những chiếc lá vàng, lá đỏ mà tôi rất thích đã bị những trận mưa và gió làm rụng hết chỉ còn trơ lại những cành. Với tôi mùa Thu là mùa đẹp nhất.

Mùa Thu cũng đem đến cho tôi nhiều kỷ niệm, khi mà các bạn tôi bên Việt Nam thường tổ chức họp mặt thầy cô và các bạn. Nhìn thấy thầy cô và các bạn lòng tôi không khỏi bồi hồi xúc động, những kỷ niệm xa xưa cứ tràn về ngập hồn tôi. Ngôi trường THVT thân thương mà tôi và các bạn đã cùng nhau học trong suốt bảy năm với biết bao kỷ niệm. Thời gian ơi hãy quay trở lại cho ta được cùng bạn bè với tà áo trắng thơ ngây ngày ngày cắp sách đến trường.

Ngày ấy gia đình tôi chuyển đến Vũng Tàu khi tôi còn là cô bé nhỏ xíu học lớp Ba trường Nữ tiểu học, đến khi tôi thi đậu vào trường THVT cùng với các bạn từ tiểu học, đuợc mặc áo dài trắng đến trường, tôi đã thật bỡ ngỡ với những môn học mới lạ và nhiều thầy cô giáo khác nhau. Lớp của tôi là lớp A1 toàn con gái, khi lên lớp 10 chia ban là lớp A 2 cũng toàn con gái. Tôi còn nhớ lần đầu tiên học môn Vạn vật khi cô bước vào cả lớp nhao nhao hỏi: “cô ơi cô tên gì cô” cô viết lên bảng chữ thiệt to Nguyễn thị Rặc rồi cười quá chừng luôn, học cô thiệt là vui. Cũng năm lớp sáu lớp bảy gì đó, không biết đứa nào bầy trò mà tôi và nhỏ Thủy chơi trò giấu thư trong hộc bàn, hai đứa làm quen với hai chị học lớp Mười hai khác buổi với chúng tôi, chúng tôi lúc đó thần tượng các anh chị lớp Mười hai lắm ngày nào cũng tìm xem mình có thư không, thư chỉ  là vài câu hỏi thăm vớ vẩn thôi nhưng cũng vui lắm.

Ngày nay dù cách xa đã 40 năm, vậy mà tôi vẫn nhớ giọng nói trong trẻo của cô Hải, cô giáo dạy sử địa xinh đẹp của chúng tôi, nhớ thầy Bửu Quê vẽ bản đồ thật là đẹp, thầy Tính với biệt tài viết tay trái vừa nhanh vừa đẹp làm chúng tôi cứ trầm trồ ca ngợi, thầy Nhàn với chữ ký đặc biệt mà chúng tôi hay gọi là cái nồi, thầy Bút với những bài thơ của Nguyễn công Trứ, Bà Huyện Thanh Quan… mà tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ, thầy Hãn dạy chúng tôi môn toán… Các thầy cô khi ấy đa số còn rất trẻ nhưng cũng rất giỏi như thầy Minh, thầy Mão, thầy Trực… thầy Giao dạy chúng tôi môn Vật Lý dáng thầy cao mảnh khảnh, hiền lành thầy thật tình cảm không ngờ đã 40 năm, vậy mà thầy vẫn nhớ từng lớp, từng học trò làm tôi thật cảm động.

Tôi nhớ nhất những năm học lớp 11,12 mặc dù đã lớn vậy mà những ngày đầu niên học, ba đứa chúng tôi vẫn rủ nhau đến sớm để… giành chỗ, nói là giành chỗ nhưng nhỏ Vân nó nhanh lắm chạy vào bỏ cái cặp và hai quyển vở hai bên, thế là chiếm được ba chỗ bàn đầu, nhỏ Kiều cao ngồng cho nó ngồi ở trong tôi ngồi giữa rồi đến nhỏ Vân. Vân nó nghịch lắm ngồi kế nó tôi hay bị nó chọc, tôi ngồi hay thả vạt  áo dài xuống cho khỏi nhăn, một vài lần nó thấy có bạn nam ở lớp khác đến hỏi thăm tôi vớ vẩn gì đó vào giờ ra chơi, thế là nó chọc ghẹo viết đầy tên bạn đó vào vạt áo dài của tôi, khi tôi phát hiện nó chỉ cười hì hì, còn tôi phải đi về nhà với tà áo dài đầy tên tức không chứ… hic. Lúc đó trường mình đã có bảng tên bằng mica, tôi hay bỏ nó vào bóp viết để trên bàn, một lần thầy giám thị vào lớp đưa thông cáo gì đó, thấy bóng thầy tôi lật đật tìm bảng tên nhưng nó mất tiêu rồi, biết ngay là nó, cũng may thầy không để ý nên tôi không bị phạt, mãi nó mới trả cho tôi còn nói cho mày chừa nha.

Nhắc đến nó tôi lại nhớ đến những ngày cuối tháng tư năm 75, hôm đó nó đến nhà rủ tôi qua trường Nam phát gạo cho những người di tản, trong những ngày ấy các trường học đều đầy ắp những người di tản từ miền Trung và các nơi chạy về. Sau khi làm xong nó chở tôi về, khi về gần đến nhà tôi nó quay lại hất nón của tôi xuống đất, tôi vội nhảy xuống để nhặt thế là nó bỏ tôi giữa đường cười ha hả rồi chạy luôn. Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi gặp nó…

Thật là buồn trong cùng một ngày tôi đã chứng kiến và mất đi hai người thân yêu, ông nội tôi và cô bạn thân mà mãi mãi không bao giờ tôi quên. Đó là ngày 30 tháng 4 cách đây 40 năm.

Kỷ niệm với bạn bè thì thật nhiều, nào là những buổi cắm trại, những lần đi chơi, có lần cả lớp còn được Canô chở từ Cầu Đá ra tầu lớn của Hải quân để tham quan, tầu lớn lắm đó cũng là lần đầu tiên tôi được thấy chiếc tầu lớn như vậy, đứng giữa biển mênh mông mới thấy mình thật nhỏ bé, rồi những lần hội chợ của trường. Nhưng buổi lễ Tạ ơn thầy được tổ chức vào dịp gần tết thì thật cảm động và làm tôi nhớ mãi.

Chúng tôi bây giờ đã là những bà nội, bà ngoại, tôi thì cũng có một cháu nội xinh xắn dễ thương rồi, tuổi chúng tôi thì cũng xấp xỉ… lục tuần, nhờ website của trường mà bạn bè liên lạc được với nhau, tuy ở xa nhưng tình bạn thật thắm thiết, rảnh thì gọi phone nói chuyện mãi không dứt, qua Emails, Facebook thì ôi thôi viết giỡn chọc nhau như con nít, quên là đầu đứa nào cũng muối tiêu rồi.

Tháng bảy vừa qua tôi và vợ chồng Hằng hẹn nhau, lần đầu tiên đi tham dự Đại hội THVT ở Cali, gặp lại thầy cô và các bạn sau gần 40 năm, bạn bè gặp nhau thật vui bọn con gái thì đứa nào cũng nhìn ra nhau, còn các bạn nam thì người biết người không vì không học chung lớp, nhưng mọi người thật vui, cũng nhờ Bang và Minh sắp xếp cho chúng tôi chỗ ăn ở, còn chở đi chơi mọi nơi nữa, cảm ơn các bạn. Mong là đại hội lần tới lại được gặp nhau nhé.

Bây giờ nhớ lại những kỷ niệm ngày qua, thầy cô của chúng ta người còn người mất, một số bạn đã bỏ chúng ta mà đi, kỷ niệm trong tôi buồn vui lẫn lộn. Thời gian thì cứ trôi đi không bao giờ trở lại.

***Em xin mượn mấy dòng kết để kính chúc sức khỏe đến thầy cô thân yêu của chúng em, luôn được bình an, mạnh khỏe. Và trong tâm tư của em mãi mãi không bao giờ quên thầy cô, bạn bè và trường THVT thân thương của chúng ta.

Chicago một ngày Mùa Thu.

                                       Đặng Minh Thị Chinh.